BÀI MINH KÝ THÁP CỦA THIỀN SƯ HOÁN BÍCH CHÙA HÀ TRUNG DO VUA NƯỚC ĐẠI VIỆT SẮC BAN [a]
Bài khảo dịch "Đại Việt quốc vương Sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh" này đã được đăng trên tạp chí Liễu Quán số 8, ra tháng 05/2016. Nay nhân tác giả - Thượng tọa Thích Quang Định (Phó Giám đốc đặc trách Hán ngữ, Trung tâm Biên, phiên dịch tư liệu Phật giáo quốc tế) đến thăm đoàn sưu khảo Thư viện Huệ Quang tại Tổ đình Quốc Ân, chúng tôi đề xuất cho đăng lại bài khảo dịch, tác giả đã hoan hỷ đồng ý và bổ chú thêm nhiều chi tiết, sử liệu, chú thích so với bài công bố 10 năm trước, để cống hiến bạn đọc một bài dịch, chú hoàn bị hơn trong bối cảnh tư liệu ngày càng được sưu tầm đầy đủ hơn.
--- --- ---
大越國王
敕賜河中寺煥碧禪師塔記鉻
余恭膺天命,臨于兆姓,鷄鳴而起,孜孜不忘為善之道也。越觀自開國以来,立寺建菴,延僧供佛,廣行方便,圖使畿內天 下盛起,全自頓拋憑念,庶幾生順死安,漸近化城境界。
比有煥碧禪師,于乙已年,從中華來,初鍚㱕寧府,創建十塔彌陀寺,廣開象教, 再回顺化 富春山,崇造國恩 寺并普同塔。至聖考前朝,又命禪師囬廣東延請長壽石老和上并請佛像及法器迎囬,来往完成頗多功績。自此奉旨住持河中 寺,回光 自照,分 條析理,談及玄微,載偹前聞,截偽續真,開茲後學,受具戒徒,四眾人等。
禪師原籍廣東,潮州府,程鄉縣,謝氏子。生于戊子年,五月,十八日,戍牌,十九辭親出家,投於報資寺曠圓和上,法名元韶,字煥碧。歷自航来余境,計五十一年矣。至戊申年淂病,于十月,十九日,召集四眾人等,談及玄機,囑留秘語,臨期援筆說偈,偈曰:
寂寂鏡無影
明明珠 不 容
堂堂物非物
寥寥空勿空
書罷端然正寂。法臘八十一,受戒宰官、門徒眾等造塔𨷯化處。其門徒眾等跪請記、銘;余諡曰:“行端禪師”。余亦欲萬世人人仰慕善道,證如来無上之果,共享太平之福無窮。因為之記而銘焉,銘曰:
優優船若 堂堂梵室
水月優遊 戒持戰栗
湛寂狐堅 卓立可必
視身本空 弘教利物
遍 處慈雲 普照慧日
瞻之嚴之 泰山屹屹
保泰拾年四月初八日頒 奉立
Dịch nghĩa:
Bài ký và bài minh của quốc vương nước Đại Việt tại tháp
Thiền sư Hoán Bích chùa sắc tứ Hà Trung(1)
Ta(2) cung kính nhận theo mệnh trời(3) đến với trăm họ, gà gáy đã dậy, canh cánh không quên cái đạo làm thiện(4). Xét từ thuở khai quốc đến nay, dựng chùa, lập am, thỉnh tăng, cúng Phật, rộng thi phương tiện, với mưu cầu: thiên hạ chốn kinh kì hưng thịnh(5); người người tự buông tất cả để nương vào niệm lực, ngõ hầu sinh thuận tử yên, tiến dần về cảnh giới Hóa thành vậy! (6).
Gần đây(7) có Thiền sư Hoán Bích, vào năm Ất Tỵ(8 ) Ngài từ Trung Hoa đến, ban đầu trác tích(9) tại phủ Quy Ninh(10), dựng chùa Thập Tháp Di Đà(11), rộng mở Tượng giáo(12). Sư lại trở về(13) núi Phú Xuân ở Thuận Hoá(13) trùng tu(14) chùa Quốc Ân(15) và dựng tháp Phổ Đồng(16). Đến thời đức thánh khảo(17) ta trong triều trước, sư vâng mệnh trở về Quảng Đông thỉnh hoà thượng Trường Thọ Thạch Lão(18) cùng tượng Phật, pháp khí(19) về. Chuyến đi xuôi thuận, lập nhiều công tích. Từ đó, vâng chỉ trú trì chùa Hà Trung. Từ đây, hồi quang tự chiếu, chia chẻ lí mầu, đàm lẽ huyền vi, ghi chép hết những điều đã nghe trước đây, bỏ dối nối thật, mở lối hậu học (20) và những vị thụ đại giới cũng như đồ chúng(21).
Thiền sư sinh vào giờ Tuất, ngày 18 tháng 5 năm Mậu Tý(22), con nhà họ Tạ, nguyên quán ở huyện Trình Hương, phủ Triều Châu tỉnh Quảng Đông(23). 19 tuổi từ thân xuất gia lễ Hoà thượng Khoáng Viên(24) chùa Báo Tư(25) làm thầy, Pháp danh(26) Nguyên Thiều, tự Hoán Bích. Kể từ ngày sư theo thuyền đến đây tính đã 51 năm. Năm Mậu Thân(27) nhuốm bệnh, đến ngày 19 tháng 10, ngài bèn triệu tập môn đồ tứ chúng(28), luận then nhiệm mầu, di chúc mật ngữ, lúc sắp ra đi, cầm bút viết kệ, kệ rằng:
Lặng lặng gương không bóng,
Lồng lộng ngọc không hình.
Rành rành vật chẳng vật,
Mênh mông không chẳng không.
Viết xong, sư đoan nhiên thị tịch(29), trải 81 hạ lạp(30). Những vị quan lại đã thụ giới với ngài cùng môn đồ dựng tháp ở xứ Cửa Hoá(31). Đệ tử trong sơn môn quỳ thỉnh cầu ta ban ký và minh. Ta bèn ban Thụy hiệu(32): “Hạnh Đoan Thiền sư”. Ta cũng muốn rằng tất cả mọi người đời đời ngưỡng mộ đạo lành, chứng quả Vô thượng của Như Lai, cùng hưởng phúc thái bình vô lượng, nhân đó làm bài ký cùng tiếp bài minh, minh rằng:
Bát nhã ung dung,
Phạm thất đường đường.
Trăng nước ưu nhàn,
Trì giới ma sợ(33).
Thanh lắng kiên cường,
Uy nghiêm vời vợi.
Xem thân vốn không,
Hoằng giáo lợi vật.
Mây lành giăng khắp;
Trời tuệ rộng soi.
Chiêm ngưỡng uy nghiêm,
Thái sơn cao ngất.
Kính lập bia theo lệnh chúa ban vào ngày mồng 8 tháng 4 năm Bảo Thái(34) thứ 10
--- --- ---
Thích Quang Định phụng dịch
Chú thích:
[a] Tựa bài do Biên tập viên đặt
1. Chùa Hà Trung ở xã Hà Trung, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế, hiện nay vẫn còn.
2. “Ta” ở đây chỉ chúa chúa Nguyễn Phước Chú 阮福澍, con trưởng của chúa Nguyễn Phước Chu 阮福淍 (có nơi dùng chữ 週), thân phụ của Nguyễn Phước Khoát 阮福闊; tức Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng Đế肅宗孝寧皇帝, tại vị 1725 – 1738.
3. Cung ưng thiên mệnh恭膺天命: Cung kính nhận lĩnh mệnh trời. Câu thường nói để thể hiện bản thân là chân mệnh thiên tử của các vị đế vương, ví dụ quyển 5, sách Thanh Lương sơn chí 清涼山志卷第五 của Thích Trấn Trừng释镇澄 thời Minh có ghi: “Trẫm cung kinh nhận lĩnh mệnh trời, là bậc chủ tể vùng Hoa và Di 朕恭膺天命,主宰華夷” hoặc sách Minh Thành Tổ Chu Đệ 明成祖朱棣 trong tác phẩm Chư Phật Như Lai Bồ tát Tôn giả danh xưng ca khúc 諸佛世尊如來菩薩尊者名稱歌曲cũng ghi như trên. Văn bia này do bị mờ hoặc không có cơ hội tiếp xúc trực tiếp bia chính ở tháp vùng Cửa Hóa mà chỉ đọc bia dựng vọng ở chùa Quốc Ân nên thường bị nhầm “ưng膺” thành “ứng應”. Thật ra, đây là cách nói theo quan điểm tâm linh, rằng: quyền uy thế lực của vua do trời và thần linh chỉ định, sắp đặt (quân quyền thần thụ 君權神授). Đây là câu thường dùng của các bậc vua chúa.
4. Gà gáy đã dậy, canh cánh không quên đạo làm thiện. Sách Mạnh Tử - Tận Tâm thượng 孟子 - 盡心上 có câu: “Gà gáy đã dậy, chăm chăm làm thiện, người của [Ngu] Thuấn; gà gáy đã dậy, chăm chăm làm lợi, người của [Đạo] Chích” (雞鳴而起,孳孳爲善者,舜之徒也;雞鳴而起,孳孳爲利者,蹠之徒也。).
5. Dân chốn kinh kì: dịch từ “kì nội thiên hạ畿內天下”, trong đó, “kì nội” chỉ vùng đất trong quãng nghìn dặm thuộc vùng kinh đô của các bậc đế vương.
6. Hóa thành化城: Thành huyễn hóa không thật, thành tạm thời; hình ảnh lấy trong phẩm Hóa thành dụ, kinh Pháp Hoa, vốn chỉ trạng thái niết bàn của Tiểu thừa, song theo mạch ý văn, ở đây chỉ cảnh thanh bình của dân chúng trong môi trường Phật giáo ở kinh đô.
7. Tỉ hữu Hoán Bích thiền sư: tham khảo các bản dịch trước như của Thượng tọa Mật Thể trong Việt Nam Phật giáo sử lược…chúng tôi thấy đều dịch là “Ví như Thiền sư Hoán Bích”, điểm này xét về logic, thì ý văn không khớp và không phải là ví dụ minh chứng cho tiền đề đã nêu trong văn, đồng thời không khớp với mạch ý văn các câu tiếp theo. Vì đoạn văn phía trên nói về việc “chúa là chân thiên tử” do đó có những việc làm như “thỉnh tăng, cúng Phật…” với mục đích cầu cho thiên hạ thái bình. Nếu chúa muốn nêu ví dụ cụ thể thì nói ví dụ như “ta” hoặc “phụ hoàng ta”… đã làm những việc như thế như thế…Nếu kết hợp với các câu sau, càng chứng tỏ điều này. Tức không phải ví như có thiền sư Hoán Bích từ Trung Hoa sang được. Từ tính logic này, chúng tôi cho rằng dịch: “ví như thiền sư Hoán Bích” là thiếu hợp lí.
Chữ “tỉ” trong từ “tỉ hữu” có nghĩa như chữ “tỉ lân” trong cụm từ “thiên nhai nhược tỉ lân天涯若比鄰 (dù ở chân trời cũng như là bên cạnh”, vậy “tỉ” ở đây nghĩa là “cạnh bên, gần kề” có thể dịch “tỉ hữu” thành nghĩa “gần đây có”.
8. Năm Ất Tị, tức năm 1665 Dương lịch. Bấy giờ ngài Nguyên Thiều mới 18 tuổi.
9. Trác tích, nguyên văn chữ “tích” chỉ một loại kim loại tức thiếc, kí hiệu hóa học Sn. Ở đây chỉ tích trượng, tức chiếc gậy ở đầu có gắn vòng bằng thiết của các vị sư dùng khi đi lại. Vốn một trong ba vật bất li thân theo giới quy định của người xuất gia. Sau người ta chỉ sư đi xa là “du tích”, dừng ở lại lâu dài là “trác tích”… trường hợp này, “tích” được hiểu là trác tích.
10. Phủ Quy Ninh tức vùng Quy Nhơn, Bình Định hiện nay.
11. Thập Tháp Di Đà, tên một ngôi chùa ở Bình Định.
12. Tượng giáo, chỉ Phật giáo. Sau khi đức Thích Ca nhập diệt, các đệ tử dùng gỗ, đất, đá… đẽo thành tượng Phật hoặc vẽ hình đức Phật lên các vật liệu khác nhau để thờ nên gọi là tượng giáo. Cũng có thuyết cho rằng, Phật giáo dùng nhiều biểu tượng, hình tượng hoặc ví dụ mang tính hình tượng để gợi mở, dẫn dắt, giáo hóa con người nên gọi là Tượng giáo. Các sách như Quảng Hoằng Minh Tập 廣弘明集 do Thích Đạo Tuyên soạn có đoạn ghi: “Từ khi Tượng giáo [Phật giáo] chảy về phía Đông đã nghìn năm rưỡi - tự Tượng giáo Đông lưu thiên linh dĩ bán自象教東流千齡已半” hay sách Tục cao tăng truyện của cùng tác giả cũng có đoạn ghi: “quả thực là rường cột của Tượng giáo 寔象教之棟梁”.
13. Núi Phú Xuân, chỉ vùng gò đồi phía phải Nam Giao từ dốc Bến Ngự lên.
14. Sùng tạo tức trùng tạo, trùng tu.
15. Quốc Ân: Tức chùa Quốc Ân do tổ Nguyên Thiều Hoán Bích trùng tu. Căn cứ vào chi tiết thầy của tổ Nguyên Thiều là thiền sư Bản Quả Khoáng Viên ở chùa Quốc Ân tại Trung Quốc được ghi trong Chính nguyên lược tập 正源略集, mục Tân Châu – Long Sơn – Quốc Ân Khoáng Viên Hành Quả Thiền sư 新州龍山國恩曠圓行果禪師 người viết cho rằng, chùa Quốc Ân ở Huế vốn không phải tên Quốc Ân mà chỉ sau khi tổ lập công bằng việc thỉnh tượng Phật, pháp khí và sư Thạch Liêm sang Việt Nam, bấy giờ sư mới được nhà cầm quyền tin tưởng sùng vọng cho “sùng tạo” tức “trùng tu” và đổi tên chùa cũ thành chùa Quốc Ân ngày nay. Lịch sử hoằng giáo của các vị tổ sư thường đặt tên chùa ở các vùng đất mới giống như tên mà các vị ấy từng xuất gia là điều thường thấy.
16. Phổ Đồng tháp: Theo Vô Trước Đạo Trung 無著道忠 (1653-1744), học giả, thiền sư người Nhật Bản giải thích tháp Phổ Đồng: “phàm chôn cất xương cốt tăng sĩ đã mất vào trong một tháp thì gọi là tháp Phổ Đồng” (凡藏亡僧,骨植同歸於一塔, 故云普同塔。) "Phàm tàng vong tăng cốt thực, đồng quy ư nhất tháp, cố vân Phổ Đồng tháp” . Gần đây, trong bài nghiên cứu về tháp Phổ Đồng trong Phật giáo Hán truyền 漢傳佛教普同塔研究 (tạp chí Nghiên cứu tôn giáo học Trung Quốc) của học giả Vương Đại Vỹ 王大偉 cho rằng việc dựng tháp Phổ Đồng vì mục đích chôn cất hài cốt chung của các vị tăng bình thường không đủ tư cách làm tháp. Theo Thích thị yếu lãm 释氏要览, quyển 3, thì những vị chứng quả vị nào trong tứ quả Thanh văn thì được dựng tháp bấy nhiêu tầng tương ứng. Phật Độc giác dựng tháp 11 tầng, ý nói chưa thoát khỏi chi phần Vô minh trong mười hai nhân duyên, Phật được dựng tháp 13 tầng, ý nói đã siêu xuất sinh tử, tăng sỹ bình thường nhưng có đức hạnh thì được tháp không có cấp nào (tức mộ bình thường). Theo Vương Đại Vỹ thì tháp Phổ Đồng chính là “mộ tập thể” của các tu sỹ bình thường.
17. Thánh khảo, chỉ Hiếu Minh Hoàng Đế Nguyễn Phúc Chu, tức phụ vương của của chúa Nguyễn Phúc Chú. “Khảo”, từ trang trọng để chỉ phụ thân đã mất, thánh khảo là cách tôn xưng được dùng cho vua chúa, điều này ta còn thấy qua văn bia Minh Mạng ở chùa Túy Vân – Huế.
18. Trường Thọ Thạch Lão (1633 ~ 1702) Ngài họ Từ 徐, tên Thạch Liêm 石濂, sau khi xuất gia lấy hiệu Đại Sán大汕. Người được nhắc với tên Thích Đại Sán釋大汕 hiệu Hán Ông 厂翁. Ngoài ra còn có nhiều tên hiệu khác như Thạch Liên 石蓮, Thạch Hồ 石湖, Thạch Bồng 石蓬, Thạch Đầu Đà石頭陀. Thể theo lời mời của Nguyễn Phúc Chu, ngài đến Việt Nam năm 1665.
19. Pháp khí, chỉ con người Phật giáo tức trỏ những vị cao tăng, cũng chỉ những khí cụ để hoằng truyền chính pháp như chuông, mõ, phan, lọng… trường hợp này chỉ cả hai.
20. Chia chẻ lí mầu, đàm lẽ huyền vi, ghi chép hết những điều đã nghe trước đây, bỏ dối nối thật, mở lối hậu học. Câu này được soạn giả trích dẫn theo văn bia Đại Đường thánh giáo tự (大唐三藏圣教序) do Đường Thái Tông Lý Thế Dân唐太宗李世民 (598-649) soạn, tuy nhiên ở đây, soạn giả có thay đổi vài chữ. Cụ thể ở bia ghi:
Bia tháp: 分條析理,談及玄微,載偹前聞,截偽續真,開茲後學
Thánh giáo tự: 分條析理, 廣被前聞,截偽續真開茲後學
21. Thụ giới và đồ chúng: Thụ giới tức chỉ toàn bộ các giới tử trong giới đàn do ngài làm Đường Đầu; đồ chúng, chỉ những vị xuất gia, tại gia làm đệ tử của ngài.
22. Mậu Tí: Năm sinh của Nguyên Thiều, tức năm 1648.
23. Huyện Trình Hương, phủ Triều Châu tỉnh Quảng Đông. Trình Hương nay là huyện Mai (Mai huyện梅縣), phố Mai Châu 梅州市 tỉnh Quảng Đông 東省.
24. Khoáng Viên: pháp danh Bản Quả 本果, tự Khoáng Viên thuộc tiếp nối đời thứ 32 (căn cứ theo Lịch truyền Tổ đồ) của phái thiền Lâm Tế, là học trò của quốc sư Đạo Mân Hoằng Giác 道忞弘覺. Cứ theo Nhân danh quy phạm tư liệu khố (kho tư liệu chuẩn về tên người) <<人名规范资料库》, Khoáng Viên là tên tự, hiệu Thạc Phong 碩豐, pháp tự của Mộc Trần Đạo Mân, nguyên quán ở Giang Lăng 江陵, ngài có trước tác bộ Chính Hoằng Tập <<正弘集》. Ngoài ra ngài còn có tên Khoáng Viên Hành Quả 曠圓行果. Sách Ngũ Đăng Toàn Thư quyển 74; Tứ Khố Toàn Thư Tổng Mục Đề Yếu, Tử bộ, cuốn 145; Chính Nguyên Lược Tập cuốn 6 đều có phần liên quan đến thiền phong ngài.
25. Chùa Báo Tư, ở Ngũ Dương thành tức Quảng Châu. Ngôi chùa mà thái tử cuối cùng của nhà Minh - Chu Từ Lãng 朱慈烺 ở và tu tập đến cuối đời, lấy hiệu Hoắc Sơn hòa thượng奯山和尚.
26. Pháp danh: Trong các tông phái đạo Phật, Thiền tông đặc biệt chú trọng đến sự truyền thừa liên thông chính mạch, vì vậy, tuyệt đại đa số người xuất gia tu theo Thiền tông đều có pháp danh, đồng thời pháp danh đó thường được đặt án theo tự bối của một dòng kệ truyền thừa. Thiền tông có quy định khá nghiêm ngặt về pháp danh, còn tên tự không có quy định cụ thể nên tên tự có thể do bản thân tự đặt hoặc do sư phụ đặt cho, pháp danh thì không.
27. Mậu thân: Tức năm 1728.
28. Tứ chúng: Chỉ bốn nhóm đệ tử gồm Tỉ khưu, Tỉ khưu ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di. Cố nhiên trong nhóm Tỉ khưu sẽ có Sa di, trong nhóm Tỉ khưu ni sẽ có Sa di ni và Thức xoa ma na. Ở đây chỉ nêu lược như vậy.
29. Đoan nhiên chính tịch: thị tịch trong tư thế ngồi kiết già ngay thẳng. Theo kết quả nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng chư vị thiền sư thiền phái Lâm Tế nói riêng và Thiền Tông nói chung thì việc truyền kệ, biết trước giờ chết và thường chết trong tư thế ngồi là một trong những nét riêng có của những bậc đạt thiền trong thiền gia.
30. Hạ lạp: dịch từ chữ Pháp lạp. Pháp lạp: Sách Tổ Đình Sự Uyển 祖庭事苑 nói, Lạp tức tháng chạp (tháng 12 âm lịch), đây là tháng cuối của năm cũ và sắp khởi đầu của năm mới do vậy nó còn có nghĩa là nơi tiếp giáp giữa cái cũ và cái mới, cụ thể đây là thời điểm tiếp giáp giữa năm cũ và năm mới; người đời lấy tháng này làm mốc để tính năm tuổi, người xuất gia lấy sự thanh tu giới luật trong ba tháng an cư để tính tuổi xuất gia tu học Phật pháp, do vậy gọi là pháp lạp. Trải 81 hạ lạp, có sự nhầm lẫn giữa tuổi đời và tuổi hạ. Nếu chiếu theo đặc trưng của Thiền môn Trung Hoa thời bấy giờ, hễ người nào phát tâm xuất gia, được hòa thượng bản sư chấp nhận thì được tính tuổi hạ ngay lúc vào chùa và được xuống tóc. Cũng có trường hợp cho rằng, do chư tổ là “thừa nguyện tái lai – nương theo nguyện lực để trở lại giáo hóa” nên tính cả tuổi đời thành tuổi đạo.
31. Cửa Hoá 𫔸化: Tên vùng đất ở xã Ngũ Tây [An Tây], cách Cửa Sẻ bởi con suối Lim.
32. Thuỵ hiệu: Sách Tăng Sử Lược 僧史略 nói, Tăng là những bậc thực hành muôn hạnh, nên nhất định sẽ để lại dấu vết; bậc có thiện hạnh thì cho tên thuỵ tốt đẹp, kẻ làm việc ác tất người đời không thèm nhắc tên. Từ thời Hán, Nguỵ, Tấn, Tống không nghe đến việc đặt thuỵ hiệu cho tăng sỹ, đến thời Hậu Nguỵ do nhà vua trọng vọng vị cao tăng Pháp Quả: sống thì cho làm quan, chết thì đích thân viếng tang và tặng thuỵ hiệu là Hồ Linh 胡靈, đấy chính là khởi đầu của việc đặt tên thuỵ cho hàng tăng sỹ vậy. Ở Đại Việt thời bấy giờ, Nguyên Thiều là một trong hai vị tăng được quốc chúa ban thuỵ hiệu.
33. Từ “chiến lật” trong câu “giới trì chiến lật” chỉ sự run rẩy do lo sợ. Tuy nhiên chúng ta không nên hiểu và dịch là “trì giới run rẩy” hay “trì giới lo sợ” vì trong Phật giáo, giới có công năng hộ trì người tu; ma thường mê hoặc dụ dỗ người tu phá giới. Theo đó, chúng ta có thể hiểu bằng mối quan hệ logic nhân quả rằng, giữ giới là nguyên nhân làm cho ma quỷ lo sợ, do vậy chúng ta có thể dịch thoát như đã dịch.
34. Bảo Thái: niên hiệu thứ hai (1720 -1729) của vua Lê Dụ Tông. Vậy năm thứ 10 niên hiệu Bảo Thái tức năm 1729.
35. Về ý nghĩa câu “về lại núi Phú Xuân ở Thuận Hóa 再回顺化富春山”. Có trường hợp nhận định rằng, “về lại” tức trước đây sư Nguyên Thiều đã đến Thuận Hóa, nhưng đây là nhận định chưa chính xác vì chỉ căn cứ vào “từ” nhưng không căn cứ vào “câu”. Theo cấu trúc “Sơ初....Tái再” trong câu trọn vẹn “初鍚㱕寧府,創建十塔彌陀寺,廣開象教, 再回顺化富春山” thì tác giả văn bia chỉ nói đến thứ tự trước sau của chặng đường hoằng hóa của sư Nguyên Thiều theo các dấu ấn quan trọng chứ không có nghĩa là “đã từng ở Thuận Hóa” nên nay “về lại lần nữa”.
36. Nhiều chữ hoàn toàn không còn đọc được ở văn bia gốc, do bia đã bị phong hóa. Ở đây, người dịch đối chiếu với bia sao dựng lại ở Tổ đình Quốc Ân để bổ sung những chữ không đọc được tại bia gốc, tuy vậy, bia sao và dựng ở Tổ đình Quốc Ân vẫn có nhiều chữ không trùng với bia gốc: có khi do tự ý thay đổi kết cấu chữ, có khi đọc nhầm, ở bản dịch này giữ theo bia gốc, chỉ đối chiếu bổ sung những trường hợp bị mất chữ.

Bia ký tháp Tổ Nguyên Thiều được gắn vào mặt chính của bình phong dựng ngay phía trước bảo tháp.

Thượng toạ Thích Quang Định (Phó Giám đốc đặc trách Hán ngữ, Trung tâm Biên, phiên dịch tư liệu Phật giáo quốc tế) đang thăm không gian làm việc của đoàn sưu khảo tại Tổ đình Quốc Ân

Bản rập bia bài ký minh của Ninh vương Nguyễn Phúc Chú, do Thiền sư Liễu Chơn Từ Hiếu (trú trì đời thứ 11) cho trùng san trên đá thanh dưới thời Tự Đức, hiện được tôn trí tại nhà bia phía tả Tổ đình Quốc Ân.
Bản rập do Nguyễn Phước Bảo Đàn và Lê Thọ Quốc thực hiện 4/2026.

Thượng toạ Thích Không Nhiên cùng Thượng toạ Thích Quang Định đang xem các câu đối tại Tổ đình Quốc Ân

Xem cách thức số hoá kinh sách của Thư viện Huệ Quang







