BỘ SÁCH [NGŨ ĐĂNG HỘI NGUYÊN] TẠI TỔ ĐÌNH QUỐC ÂN
Tại Tổ đình Quốc Ân, trong chuyến sưu khảo lần này, chúng tôi được tiếp cận với bộ sách Ngũ đăng hội nguyên 五燈會元 hiện còn khá nguyên vẹn và đầy đủ, là một bộ sách được khắc in tại Việt Nam trong khoảng thế kỷ 18 ở chùa Liên Tông.
Về tổng quan, bộ sách gồm có 22 tập được đóng riêng rẽ, với 2 tập Ngũ đăng hội nguyên mục lục 五燈會元目錄 và 20 tập chánh văn của bộ Ngũ đăng hội nguyên. Tuy nhiên, qua những thăng trầm của lịch sử, bộ sách ngày nay cũng đã có những phần bị khuyết thiếu. Do đó, trong bài viết này, chúng tôi đã sử dụng bộ sách Ngũ đăng hội nguyên ký hiệu AC.633/1-10 của Viện nghiên cứu Hán Nôm (VHN) ở Hà Nội để làm công tác so sánh và đối chiếu với văn bản ở chùa Quốc Ân.
Bộ sách của VHN được bắt đầu bằng một bức phi họa 扉畫 vẽ một vị sư đang ngồi đọc hoặc viết, phía trước là một đồng tử; trang sau là một bài vị chúc ngữ 牌位祝語 với nội dung: Hoàng đồ củng cố… thường thấy trong các kinh sách thời xưa, góc dưới bên phải của trang bài vị cho biết thông tin về thợ khắc: Sử Quản san 使管刊. Đây là tờ mà bản sách ở chùa Quốc Ân không có. Qua đối chiếu sơ bộ, chúng tôi thấy rằng đồ họa của toàn bộ tờ này có lẽ đã được khắc dựa trên tờ phi họa trong sách Cảnh Đức truyền đăng lục 景德傳燈錄 quyển 1, bản Gia Hưng tạng, hoặc các truyền bản của nó.
Tiếp theo là đến tờ phi hiệt 扉頁, hàng giữa ghi: Trùng khắc Ngũ đăng hội nguyên 重刻五燈會元, bên phải ghi: Đông Sơn - Hoa Nghiêm tự tàng bản 東山華嚴寺藏板, bên trái ghi Chư kinh nhật tụng 諸經日誦, trang sau bỏ trống. Tờ này, bản ở chùa Quốc Ân chỉ còn được thấy mặt a, là một tờ rời, đã bị bung ra khỏi sách, ngoài ra thì mặt này cũng đã được người đời sau viết thế vào, chứ không phải là 1 trang sách gốc thuộc bản in ban đầu. 2 tờ đầu tiên này không thấy được đánh số.
3 tờ tiếp theo (đánh số từ 1 đến 3) là bài tựa Trùng san Ngũ đăng hội nguyên 重刊五燈會元敘 của ngài Bác Sơn Vô Dị 愽山無異 (1576 - 1630), bài tựa này chúng ta có thể tham khảo chế bản tại đường link: https://cbetaonline.dila.edu.tw/zh/X1564_001. Qua so sánh sơ bộ, chúng tôi thấy rằng, bài tựa này và bài tựa trong tập sách của chúng ta không có sai khác về nội dung, chỉ sai khác về cách viết dị thể. 3 tờ này, bản ở chùa Quốc Ân hiện chỉ còn 2, là tờ 1 và tờ 3, trong đó, tờ 3 lại bị đóng lạc sang quyển hạ, thay vì ở quyển thượng.
2 tờ tiếp theo (đánh số 1 và 2) dành cho bài tựa của bộ kinh Ngũ đăng hội nguyên 五燈會元經序 của một tác giả Việt Nam, trong bài tựa này, chúng tôi thấy có hiện tượng kiêng húy chữ BANG 邦 (tên của vua Lê Anh Tông - Lê Duy Bang, trị vì từ 1556 đến 1573) và húy chữ CĂN 根 (tên của chúa Trịnh Căn, tại vị từ 1682 đến 1709), bài tựa được viết vào ngày lành mùa thu năm Cảnh Thịnh thứ 5 (1797), lúc này đã qua đến triều Tây Sơn, chứ không còn ở thời “lưỡng đầu chế” Lê - Trịnh (tuy nhiên, có thể do thói quen, mà người ta vẫn viết kiêng húy, trong khi chữ húy đó đã hết “hiệu lực”); tuy thế, một điểm rất đáng ngờ nữa ở bài tựa này là phần niên đại được viết nhỏ và nét khác hơn so với toàn bộ bài tựa ở những trang trước, cũng lại không cho biết ai là tác giả của bài tựa.
2 tờ tiếp theo (đánh số 4 và 5 - chưa tìm thấy tờ số 3) là dành cho bài tựa của bộ sách Ngũ đăng hội nguyên 五燈會元序, do ngài Phí Ẩn Thông Dung 費隱通容 (1593 - 1661) soạn, được viết vào ngày rằm tháng Giêng năm Giáp Tuất niên hiệu Sùng Trinh (1634).
Các tờ sau (được đánh số từ 1 đến hết ở mỗi quyển) là nội dung của bộ mục lục, được chia làm 2 quyển thượng hạ. Quyển thượng ghi chép mục thứ của 10 quyển đầu trong bộ Ngũ đăng hội nguyên, và quyển hạ ghi chép về mục thứ của 10 quyển sau của bộ sách. Góc dưới bên phải của tờ 1a quyển thượng cho biết thông tin về thợ khắc: Phó Xuân san 付春刊. Đến cuối quyển 1, bắt đầu từ tờ 36a10 đến hết tờ 37 ghi phương danh của các vị tăng tín đồ góp công góp của trong việc san khắc bộ sách. Về nội dung của 2 quyển mục lục này, chúng ta có thể tham khảo tại trang web: https://cbetaonline.dila.edu.tw/zh/X1564_001.
Tiếp theo là nội dung chính trong 20 quyển của bộ Ngũ đăng hội nguyên, mà nội dung của nó, chúng ta có thể tham khảo tại trang web: https://cbetaonline.dila.edu.tw/zh/X1565_001. Ở cuối quyển 1 của bộ sách, ta cũng biết thông tin về thợ khắc: Sử Quản san 使管刊. Ở cuối quyển 2, tờ 77b9-78a2 là 4 dòng hiệu ngoa 校訛. Sau đó nó cho biết thông tin về việc vợ chồng ông Cao Đắc Phấn là người đã bỏ tiền ra để lo liệu cho việc in quyển 2 này, và ngài Tính Dược Diệp Diệp 性爚爗爗 là người đã hóa duyên để cho việc san khắc được thành tựu. Cuối cùng là dòng niên đại, vào ngày lành mùa thu tháng Tám năm Bính Dần niên hiệu Cảnh Hưng (1746).
Cuối quyển 3 lại cho ta thông tin rằng ngài Tịch Thị Chân Chân 寂是真真 thay mặt thầy mình là ngài Hải Quýnh Chiêu Chiêu 海炯昭昭 (1728 - 1811) khuyến hóa các vị thiện nam tín nữ rộng phát duyên lành để hỗ trợ việc san khắc quyển 3 của bộ sách được hoàn mãn vào tháng 11 năm Mậu Ngọ niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 6 (1798), và nó cũng cho ta thông tin về thợ khắc: Sử Toạ san quyển tam 使坐刊卷三.
Tờ cuối quyển 11 cho biết ngài Tính Triêm Tuệ Giác 性霑慧覺 là vị hộ san và quyên tiền để khắc in quyển này, và lúc khắc xong là ngày lành tháng Mười Một (黃鍾) năm Tân Mùi niên hiệu Cảnh Hưng thứ 12 (1751). Ngoài ra, nó cũng cho biết thông tin về thợ khắc, là: Hồng Lục xã, phó Xuân khắc 紅蓼社付春刻.
Ở gần cuối quyển 14, tờ 73a có bài Tiểu dẫn 小引 của ngài Tịch Giảng 寂講, nói về việc ngài và huynh đệ trong sơn môn được tôn sư (là ngài Hải Quýnh 海炯, hoặc ngài Hải Đài 海旲) ủy thác cho việc khắc ván in bộ sách này, ngày viết tựa là ngày mùng 1 tháng Ba (姑姺) năm Mậu Ngọ, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 6 (1798). Ở đây, ta lại thấy thông tin: Hồng Lục xã, Sử Quản san 紅蓼社使管刊. Tờ 73b là phần cung tiến của ngài Tịch Giảng cho cha mẹ tông thân và tôn sư của mình là ngài Tăng thống Hải Đài 海旲, cùng với bài kệ bạt hậu có thể được tìm thấy trong Truy môn cảnh huấn 緇門警訓 quyển 9 T48, no. 2023, pp. 1090c29-1091a1: 檀那經卷早宜看。施利雖虧我不安。奉勸僧尼勤讀誦。鐵窓莫待電光寒. Tờ 74a là danh sách những người cung tiến và bài kệ bạt hậu: 是籙高玄奧莫窮。先天後地活虛空。縱橫漏泄祖師意。爭得渾家不點胸. Và cứ thế, sau mỗi một đoạn phương danh là một bài kệ bạt hậu, và quyển 14 kết thúc ở tờ 76b.
Tờ cuối quyển 15 cho biết ngài Tính Dược Diệp Diệp là người hưng công mộ hóa để san khắc quyển này, và các vị hộ san ở hàng chữ Như là các ngài Như Thức 如識, Như Y 如依, Như Hiện 如現, Tính Diệu 性曜, Tính Tuyền 性泉, Tính Quảng 性廣, Tính Toàn 性全, Tính Định 性定, Tính Nhã 性雅, Tính Nhu 性柔, Hải Đệ 海棣, Hải Đàm 海炎, Hải Dương 海楊, Diệu Tịnh 妙淨. Bấy giờ là ngày lành mùa thu tháng Tám năm Bính Dần niên hiệu Cảnh Hưng (1746).
Toàn bộ bộ sách Ngũ đăng hội nguyên gồm có 20 quyển, tuy nhiên, đến cuối quyển 20, có lẽ do thợ khắc nhầm, nên đã khắc là: Ngũ đăng hội nguyên quyển đệ tam thập chung 五燈會元卷第三十終, trong khi ở phần đầu vẫn ghi là quyển 20.
Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu bài tựa về việc khắc in bộ sách này ở Việt Nam:
<1a>五燈會元經序
經言宗旨,而以「燈」額之,何也?大都沙城之因果多迷塗,欲界之塵根 [1] 皆暗路。故自五宿者出,推蓮宗之真詮,揭淨業之本旨。於是,受持者有所領會,聽信者知<1b>所趍就。如夢斯覺,如暗斯炬,將娑婆世界揭出一大光明藏,都此「五燈」之所由名也。
我越良風居士、太傅綿郡公,天性慧解。當華途,持梵行,福田滋種,心燭常燃。頃以公幹入上邦 [2] ,路經東山<2a>之華嚴寺,得覩是經,韞之書簏以歸。遂命剞劂,公諸禪林,使世之習是經者,統宗會元,聯輝續焰。其示人入道之門,不亦灼灼然乎?則是經也,在昔為「五燈」,在今當為「六燈」矣。見者懸諸。是為序。<2b>
時景盛五年、秋天、吉日。
板留在蓮宗寺。
Bài tựa cho bộ kinh Ngũ đăng hội nguyên
Kinh nói về tông chỉ, mà lại lấy “Đăng” làm đầu đề, là cớ làm sao? Đại để, trong cõi Sa Bà, nhân quả đa phần là nẻo mê; căn trần trong cõi dục, hết thảy đều là đường tối. Cho nên, từ khi năm bậc cao đức [3] xuất thế, đã đẩy mạnh chân lý của Liên tông, vạch rõ tông chỉ căn bản của Tịnh nghiệp. Nhờ đó mà người thọ trì có chỗ để lĩnh hội, kẻ tin nghe biết hướng để tìm về. Như mộng bừng tỉnh, như tối gặp đuốc, đem thế giới Sa Bà này mở ra một kho tàng đại quang minh, đó chính là lý do bộ Ngũ đăng được đặt tên như vậy.
Nước Việt ta có ông Lương Phong cư sĩ, lãnh chức Thái phó Miên Quận công, thiên tính thông tuệ, thấu hiểu đạo lý. Dù đang hiển đạt trên con đường hoa lệ (chốn quan trường) mà vẫn giữ gìn phạm hạnh, vun bồi ruộng phước, ngọn đuốc tâm thường cháy sáng. Gần đây, nhân có việc công đi sang thượng bang (Trung Quốc), trên đường qua núi Đông Sơn, ghé chùa Hoa Nghiêm, được trông thấy bộ kinh này, bèn cất giữ trong rương sách mang về. Sau đó liền sai khắc in, công bố rộng rãi trong chốn thiền lâm, khiến cho người đời học theo kinh này có thể hội thông tông chỉ, tiếp nối ngọn đèn. Như vậy, việc chỉ bày cho người bước vào cửa đạo, chẳng phải là rõ ràng lắm sao? Do đó, bộ kinh này, xưa gọi là Ngũ đăng, nay có thể gọi là Lục đăng vậy. Người xem hãy lưu tâm. Ấy là lời tựa.
Bấy giờ là ngày lành mùa thu năm Cảnh Thịnh thứ 5 (1797).
Ván để tại chùa Liên Tông [4].
Như thế, qua một vài nét sơ bộ về bộ sách, và qua bài tựa, chúng ta biết rằng, bộ sách này do ông Lương Phong cư sĩ, lãnh chức Thái phó Miên Quận công, nhân có việc công đi sang Trung Quốc, trên đường qua núi Đông Sơn, ghé chùa Hoa Nghiêm, được trông thấy bộ sách này, bèn cất giữ trong rương sách mang về. Sau đó liền sai khắc in, công bố rộng rãi trong chốn thiền lâm. Như vậy thì bản gốc dùng để khắc ván in bộ sách này chính là bản sách của chùa Hoa Nghiêm ở Đông Sơn. Và nếu bộ sách ngay từ ban đầu đã bao gồm 20 quyển chánh văn và 2 quyển mục lục, cũng như các cấu trúc bài tựa ở đầu sách không có thay đổi gì nhiều - như ta thấy ở đây - tức là gồm 2 bài tựa của tác giả Trung Quốc, mà bài tựa có niên đại muộn nhất được viết vào năm 1634, thì ta, ngang đây, có thể đoán định được thời gian đi công cán của ông Lương Phong chắc chắn phải sau năm 1634, là năm mà bài tựa do ngài Phí Ẩn Thông Dung được viết ra, và đương nhiên, phải trước năm 1746, là năm mà chúng ta thấy sự hiện diện của ngài Tính Dược trong bộ sách. Một lần nữa, qua bài tựa của tác giả vô danh người Việt, nếu chúng ta giả định rằng nó cũng đã tồn tại từ đầu trong sách, thì với hai chữ húy là bang và căn, nhất là với chữ căn, ta có thể đoán định được rằng, bài tựa này sẽ phải được viết sau năm 1682, là năm mà chúa Trịnh Căn bắt đầu nắm quyền. Như thế, kết hợp hai thông tin suy đoán như trên, chúng ta có thể suy ra một thông tin thứ ba, đó là bộ sách này, có thể bản khắc đầu tiên xuất hiện ở nước ta, là từ khoảng những năm 1682 trở về sau.
Qua những năm 1746, 1751 và 1797, 1798, và thông tin về ông Lương Phong cư sĩ, chúng ta có thể đoán định rằng bộ sách này rất có thể đã được khắc in ở Việt Nam trong khoảng từ 1 đến 3 lần. Lần đầu tiên có thể là do ông Lương Phong, và nếu ông Lương Phong một mình đứng ra khắc in bộ sách, thì ngài Tính Dược, vào năm 1746 đã cùng với ngài Tính Triêm, vào năm 1751 (và rất có thể là những vị khác nữa, ví dụ như ngài Tính Thanh Pháp Vũ 性清法雨 mà tờ cuối quyển 13 đã cho biết, nhưng không đề cập đến năm mà ngài Tính Thanh hoàn thành bộ ván khắc…) khắc in bộ sách này lần thứ hai, và lần thứ 3 có thể đã được tiến hành trong hai năm 1797 và 1798, mà thành quả là bộ sách mà chúng ta có ngày nay.
Dựa vào thông tin ngài Tính Dược cho san khắc bộ sách vào năm 1746 được tìm thấy ở cuối quyển 2 và quyển 15, cũng như thông tin về năm 1751 của ngài Tính Triêm ở quyển 11, ta có thể đoán định rằng, trong vòng 5 năm, từ 1746 đến 1751, bộ sách đã được san khắc hoàn mãn.
Lại nữa, chúng ta vẫn chưa tìm được thông tin gì về thân thế và niên đại của ông Lương Phong (ngoại trừ một thông tin trong bộ Tứ phần luật tạng 四分律藏 quyển 1, nói rằng ông Phong, trong chuyến đi sứ, đã mua được bộ luật Tứ phần gồm 60 quyển, và đem về nước ta), cho nên rất có thể rằng ông Phong ban đầu quả thực cũng có ý định san khắc toàn bộ, nhưng vì một lý do nào đó mà ông mới chỉ làm được một ít, sau đó ngài Tính Dược nối làm, và cũng bởi một lý do nào đó mà mãi đến đời Cảnh Thịnh sách mới được khắc ván xong. Nhưng có vẻ điều này không được chính xác cho lắm, bởi vì qua những bản in hiện còn (ngoài bản ở chùa Quốc Ân, chúng tôi còn biết rằng ở viện Hán Nôm cũng có 1 bộ sách Ngũ đăng hội nguyên vẫn còn khá đầy đủ. Ngoài ra, rải rác trong các tự viện, ta cũng có thể trông thấy những quyển lẻ của bộ sách Ngũ đăng hội nguyên trong lần khắc này), chúng ta thấy chữ viết trong những bản này khá là sắc nét, và nếu trải qua đến hơn 100 năm (từ 1682? đến 1798) mới khắc in xong 1 bộ sách, trong điều kiện thời tiết nóng ẩm và chiến tranh liên miên hồi cuối thế kỷ 18, thì ta thật khó mà có thể tin được rằng bộ ván vẫn còn có thể tồn tại một cách nguyên vẹn và sắc nét như thế.
Qua thông tin về ngày tháng khắc ván ở quyển 3 và quyển 14, ta thấy rằng, có lẽ bộ sách được đem đi khắc ván ở nhiều nơi, và cũng hoàn thành không phải một cách lần lượt, bởi vì tuy quyển 14 là quyển sau, nhưng lại được khắc xong trước vào ngày mùng 1 tháng Ba năm Mậu Ngọ, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 6 (1798), trong khi quyển 3 lại được khắc xong vào tháng 11 năm Mậu Ngọ niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 6 (1798).
Lại nói về ông Quản 管 là thợ khắc của bộ sách, ta bắt gặp tên ông ở ít nhất 3 chỗ, đó là tờ phi họa ở quyển thượng, ở cuối quyển 1 của bộ sách, và ở quyển 14 tờ 73a. Như vậy, rất có thể bộ sách mà chúng ta có ngày nay đã được khắc trong vòng hai năm, là 1797 và 1798, bởi vì giả sử rằng, nếu như ông Quản có tham gia khắc ván trong năm 1746, thì lúc ấy ông chí ít cũng khoảng 20 tuổi, và hơn nửa thế kỷ sau, ông lại tham gia khắc ván nữa, thì lúc này ông đã khoảng hơn 70 tuổi, một độ tuổi cũng khó mà còn có thể theo nghề - đương nhiên với điều kiện là chúng ta suy đoán đúng về việc ông có tham gia trong cả hai lần khắc ván, và độ tuổi của ông ở hai lần khắc ván này. Nếu một trong hai giả thiết này của chúng ta có vấn đề, thì suy luận trên cũng tự nhiên vô hiệu.
Trong quá trình khảo sát bộ sách, chúng tôi có để ý thấy phần rốn sách được khắc khá lộn xộn, ví dụ trong quyển 15, tờ 49, nó chỉ khắc là Hội nguyên quyển thập ngũ 會元卷十五, trong khi ở tờ 65, nó khắc đầy đủ hơn, là Chi Na soạn thuật 支那撰述 phía trên cùng, sau đó là Ngũ đăng hội nguyên quyển thập ngũ 五燈會元卷十五… tức là quy cách khá lộn xộn, chưa kể phần mũi voi 鼻象, đuôi cá 魚尾 ở nhiều tờ cũng khá là bất nhất, khi có khi không. Dựa vào đây, chúng ta có thể đoán định rằng, ban đầu, bộ sách Ngũ đăng hội nguyên mà chúng ta thấy tại chùa Quốc Ân đã được khắc vào những năm 1746 đến 1751, sau đó, qua biến thiên của thời cuộc, ván khắc đã bị hư hao, và vì vậy, đến những năm 1797 và 1798, bộ ván đã được khắc thay thế đối với những tấm ván bị hư khuyết, sau đó đem in, và thành quả của nó chính là bộ sách mà chúng ta thấy được ngày nay.
Bộ sách Ngũ đăng hội nguyên được phát hiện tại Tổ đình Quốc Ân là một bộ sách quý, rất đáng được bảo tồn, số hóa và giới thiệu. Chúng tôi mong rằng, qua bài viết này, sẽ có những nghiên cứu tiếp theo, giới thiệu một cách chi tiết và đầy đủ hơn về bộ sách. Đây cũng là một bộ sách quý, chưa từng được dịch đầy đủ ra tiếng Việt. Mong rằng sắp tới, bộ sách sẽ được xuất hiện theo một cách khác, đầy đủ hơn, để giới thiệu cho độc giả Việt ngữ một thư tịch quý của Thiền tông Trung Quốc, rất có giá trị trong việc so sánh và đối chiếu với các tác phẩm ngữ lục của Thiền tông Việt Nam.
Chú thích:
[1] Chữ căn 根 viết kiêng húy.
[2] Chữ bang 邦 viết kiêng húy.
[3] Năm bậc cao đức 五宿者: chính là năm vị đã biên soạn ra 5 bộ sách ghi chép về việc truyền đăng, để từ đó làm chất liệu cho bộ sách Ngũ đăng hội nguyên ra đời. Ngũ đăng hội nguyên 五燈會元: bộ sách cực kỳ quan trọng trong lịch sử Thiền tông Trung Hoa, được xem như một bách khoa toàn thư về hệ thống truyền thừa và công án của Thiền tông, gồm 20 quyển, rút lấy những phần cốt yếu từ 5 bộ Truyền đăng lục, là Cảnh Đức truyền đăng lục 《景德傳燈錄》 của Đạo Nguyên 道原, Thiên Thánh quảng đăng lục 《天聖廣燈錄》 của Lý Tuân Úc 李遵勗, Liên đăng hội yếu 《聯燈會要》 của Ngộ Minh 悟明, Gia Thái phổ đăng lục 《嘉泰普燈錄》 của Chánh Thọ 正受 và Kiến Trung Tĩnh Quốc tục đăng lục 《建中靖國續燈錄》 của Duy Bạch 惟白, đúc kết lại thành 1 bộ, nên được gọi là Ngũ đăng hội nguyên. Nội dung của sách này thu chép 7 đức Phật quá khứ, 27 vị Tổ Ấn Độ và hành trạng, cơ duyên của 6 vị Tổ Trung Hoa trở xuống cho đến Thiền sư Đức Sơn Tử Quyên 德山子涓, đời thứ 17 thuộc pháp hệ của ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng 南岳懷讓 [theo Thích Quảng Độ dịch, 2000, T3, tr.3395f].
[4] Chùa Liên Tông 蓮宗寺: ngày nay là chùa Liên Phái, ở ngõ Chùa Liên Phái, phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
--- --- --- --- ---
Bài: Nguyễn Anh Tú
Ảnh: Thư viện Huệ Quang

Xem kinh sách Hán Nôm tại Tổ đình Quốc Ân

Bộ sách Ngũ Đăng Hội Nguyên lưu tại Tổ đình Quốc Ân














