ĐẠ𝙾 𝚃𝙷Ầ𝚈 𝚃𝚁Ò 𝚀𝚄𝙰 𝚃𝙷Ủ 𝙱Ú𝚃 𝙷𝙾𝙰 𝙽𝙶𝙷𝙸Ê𝙼

ĐẠ𝙾 𝚃𝙷Ầ𝚈 𝚃𝚁Ò 𝚀𝚄𝙰 𝚃𝙷Ủ 𝙱Ú𝚃 𝙷𝙾𝙰 𝙽𝙶𝙷𝙸Ê𝙼

ĐẠ𝙾 𝚃𝙷Ầ𝚈 𝚃𝚁Ò 𝚀𝚄𝙰 𝚃𝙷Ủ 𝙱Ú𝚃 𝙷𝙾𝙰 𝙽𝙶𝙷𝙸Ê𝙼

Trong truyền thống Phật giáo, nhất là nơi các thiền môn cổ kính, đạo thầy trò chưa bao giờ chỉ dừng lại ở việc truyền trao tri thức hay giáo pháp. Đó là sự tiếp nối của giới thân huệ mạng, là mối tương giao sâu xa giữa hai con người cùng đi trên con đường giác ngộ; nơi người đệ tử không chỉ học nơi thầy lời kinh tiếng kệ, mà còn học từ dáng đi, nếp sống, oai nghi, khí chất và cả sự im lặng của vị bổn sư. Bởi vậy, thiền môn xưa thường xem việc hầu thầy, phụng sự thầy cũng chính là một pháp tu.

Trong bộ kinh Hoa Nghiêm hiện còn lưu giữ tại Tổ đình Thiền Tôn, có một chi tiết rất nhỏ nhưng vô cùng cảm động, như còn lưu giữ nguyên vẹn hơi thở của đạo tình thầy trò chốn tùng lâm hơn một thế kỷ trước. Đây là bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh gồm 80 quyển, bản Hán dịch của ngài Thật Xoa Nan Đà (1), một trong những bản dịch đầy đủ và có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong lịch sử Phật giáo Đông Á.

Đặc biệt hơn, bộ kinh này đã được Tổ sư Thanh Ninh Tâm Tĩnh (2) phụng điểm (tức cú đậu) toàn bộ kinh văn bằng mực son. Đối với kinh sách Hán cổ, vốn không có dấu câu, việc cú đậu không đơn thuần là thêm dấu ngắt nghỉ cho dễ đọc, mà còn là một công việc học thuật và chứng nghĩa rất quan trọng. Người cú đậu phải thật sự thâm nhập văn nghĩa kinh điển để xác định đâu là ý chính, đâu là mạch văn, đâu là chỗ chuyển ý sâu kín của kinh. Nói cách khác, đây chính là bước sơ khởi cho việc chuyển ngữ và làm sáng tỏ ý kinh cho người học đời sau.

Vì vậy, những nét son của Tổ Tâm Tĩnh trên bộ kinh này không chỉ là dấu tích đọc kinh hay ghi chú cá nhân, mà còn là dấu ấn của một bậc cao tăng đang “khai mở” văn nghĩa Hoa Nghiêm cho hàng hậu học. Và cũng chính trên nền những trang kinh đã được bổn sư phụng điểm ấy, Đại lão Hòa thượng Thích Giác Nhiên (3) đã kính cẩn viết bài thơ họa bằng mực đen bên dưới bài thơ mực son của thầy mình, để rồi từ đó, lưu lại cho hậu thế một chứng tích vô cùng đẹp về đạo thầy trò trong Phật giáo Việt Nam.

Ở trang cuối quyển thứ 4 của phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm, sau bài “Giáng vũ tán” của Tổ Tâm Tĩnh viết bằng mực son:

神功如是無邊量

普護十方妙力持

承佛威神能化此

覺悟帬生雨及时

Thần công như thị vô biên lượng

Phổ hộ thập phương diệu lực trì

Thừa Phật uy thần năng hoá thử

Giác ngộ quần sanh vũ cập thì.

Hòa thượng Giác Nhiên đã kính cẩn họa tiếp bằng mực đen:

神功法界必周徧

一切衆生咸仰賴

威灵顯赫甚奇哉

龍王化雨一辰開

Thần công pháp giới tất chu biến

Nhất thiết chúng sanh hàm ngưỡng lại

Uy linh hiển hách thậm kỳ tai

Long Vương hoá vũ nhất thần khai.

Và phía trước bài thơ ấy, Ngài ghi một câu phụ đề ngắn gọn:

「前四句是本師,後四句承本師而題」“Bốn câu trên là của bổn sư, bốn câu dưới nương theo ý bổn sư mà phụng đề.”

Chỉ một câu ngắn như thế thôi nhưng đã nói lên trọn vẹn vị trí của người đệ tử trước bậc thầy của mình. Ngài không tự xem mình là người đối đáp thi văn ngang hàng với bổn sư. Ngài chỉ nhận mình là kẻ “thừa bổn sư nhi đề” - nương theo ý thầy mà kính cẩn họa lại vài dòng. Cái đẹp của đạo thầy trò trong Phật giáo xưa thường nằm ở chính những điều rất nhỏ như vậy.

Đặc biệt hơn nữa, Hòa thượng Giác Nhiên không dùng mực son như bổn sư mình, mà chỉ dùng mực đen để viết tiếp bài họa. Điều này thoạt nhìn có vẻ chỉ là một lựa chọn ngẫu nhiên, nhưng thật ra lại phản ánh rất rõ tinh thần lễ pháp và tôn ti của thiền môn truyền thống.

Trong văn hóa Hán học và Phật giáo Đông Á, mực son thường dành cho việc cú đậu kinh điển, lời khai thị, phê điểm hay dấu ấn của bậc tôn trưởng. Nhất là trong trường hợp này, Tổ sư Tâm Tĩnh chính là người phụng điểm bộ kinh Hoa Nghiêm ấy. Nét son của Ngài không chỉ là bút tích, mà còn mang ý nghĩa “khai mở” văn nghĩa kinh điển. Vì vậy, việc người đệ tử dùng mực đen để họa theo đã vô hình trung tạo nên một khoảng cách đầy cung kính: nét son thuộc về bổn sư, nét mực đen thuộc về người học trò.

Bài thơ của thầy hiện lên như ánh đèn chính giữa pháp hội. Bài thơ của trò lặng lẽ nằm phía dưới như một cái cúi đầu đảnh lễ.

Và có lẽ cảm động hơn cả là ở cuối bài thơ họa ấy, Hòa thượng Giác Nhiên chỉ ký vỏn vẹn hai chữ:

「深記」“Thâm ký”.

Chữ “Thâm” ở đây chính là pháp tự “Chí Thâm” của Ngài. Nhưng Ngài không dùng đầy đủ pháp tự hay danh xưng trang trọng, mà chỉ lặng lẽ ghi một chữ “Thâm”. Cách ký ấy vừa là sự khiêm xưng, vừa gợi đúng phong thái thiền môn xưa: người đệ tử trước thầy mình dường như mãi mãi vẫn chỉ là “Thâm” - cái tên thân thuộc mà bổn sư thường gọi.

Nó khiến người đời sau có cảm giác như vẫn còn nhìn thấy đâu đó một vị thị giả trẻ tuổi khép nép bên cạnh thầy mình trong ngôi cổ tự. Dù về sau Ngài trở thành bậc long tượng của Phật giáo Việt Nam, được suy tôn làm Đệ nhị Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, thì trước bổn sư, Ngài vẫn chỉ là người học trò năm nào. Phải chăng đó chính là cái đẹp lớn nhất của đạo thầy trò trong Phật giáo!

Trong kinh điển, đức Phật nhiều lần nhấn mạnh đến ân đức của bậc sư trưởng. Kinh dạy rằng: “Người biết nhớ ơn và báo ơn là người hiếm có ở đời (4).” Trong kinh Thiện Sanh (5), đức Phật dạy người đệ tử phải kính phụng sư trưởng bằng tâm cung kính, hầu hạ, lắng nghe và ghi nhớ lời dạy. Còn trong Lương Hoàng Sám lại có đoạn: “Cha mẹ tuy sinh thân này, nhưng chưa thể khiến ta ra khỏi ba đường ác. Chỉ có Sư trưởng dẫn dắt xuất gia, truyền trao giới pháp, mới là người giúp ta đi về giải thoát.” Bởi vậy, trong truyền thống thiền môn, “kính thầy như kính Phật” không phải là sự thần thánh hóa cá nhân, mà là sự tôn kính đối với nơi tiếp nối mạng mạch Phật pháp.

Nhìn vào những dòng mực son và mực đen còn lưu lại bên lề bộ kinh Hoa Nghiêm tại chốn tổ Thiền Tôn hôm nay, người ta dường như không chỉ thấy những bài thơ cảm tác nữa. Người ta thấy thấp thoáng cả một không gian tùng lâm xưa: nơi người học trò nhiều năm hầu thầy, chép kinh, nghe pháp, phụng sự và lặng lẽ trưởng thành trong ánh sáng từ hòa của bậc bổn sư.

Hơn một thế kỷ đã đi qua. Màu mực son đã nhạt. Giấy kinh cũng đã úa màu. Nhưng đạo tình thầy trò ấy vẫn còn nguyên vẹn giữa những trang Hoa Nghiêm lưu nơi chốn tổ.

--- --- ---

𝘾𝙝𝒖́ 𝙩𝙝𝒊́𝙘𝙝:

(1) Thật Xoa Nan Đà (實叉難陀, Sanskrit: Śikṣānanda, 652–710) là một cao tăng người nước Vu Điền (Khotan, vùng Trung Á cổ, nay thuộc Tân Cương – Trung Quốc), nổi tiếng là một trong những dịch giả kinh điển Phật giáo quan trọng nhất vào đời Đường. Ngài tinh thông cả Phạn ngữ lẫn Hán ngữ, được triều đình nhà Đường đặc biệt kính trọng và cung thỉnh tham gia công cuộc phiên dịch kinh điển tại Lạc Dương. Dưới thời Võ Tắc Thiên, ngài đã chủ trì dịch bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh từ Phạn văn sang Hán văn trong khoảng các năm 695–699. Đây là bản dịch được giới Phật học đánh giá là đầy đủ, văn nghĩa chuẩn xác và có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong truyền thống Hoa Nghiêm Đông Á.

(2) Tổ sư Thanh Ninh Tâm Tĩnh (1868–1928) là một vị danh tăng thuộc đời thứ 7 dòng kệ truyền thừa Thiền phái Liễu Quán, pháp phái Tây Thiên. Ngài từng đảm nhiệm chức Tăng cang Quốc tự Diệu Đế dưới triều Nguyễn, đồng thời là một trong những nhân vật tiêu biểu của phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ XX tại Trung kỳ. Tổ sư nổi tiếng là bậc giới hạnh nghiêm mật, tinh thông kinh luật và có ảnh hưởng sâu rộng trong việc đào tạo tăng tài. Ngài cũng là vị khai sáng Sơn môn Tây Thiên, chủ trương Thiền – Tịnh song tu, với tinh thần “niệm Phật để sáng tâm, thấy tánh để theo Phật”.

(3) Đại lão Hoà thượng Thích Giác Nhiên (1878–1979), húy Chí Thâm, là đệ tử của Tổ sư Thanh Ninh Tâm Tĩnh, thuộc pháp phái Liễu Quán. Ngài là một trong những bậc long tượng của Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX, từng giữ nhiều trọng trách quan trọng trong Giáo hội và được suy tôn làm Đệ nhị Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Cuộc đời Ngài gắn liền với các phong trào chấn hưng Phật giáo, giáo dục tăng tài và duy trì giới luật thiền môn.

(4) Theo Tăng Chi Bộ Kinh (AN 2.118, Kataññū Sutta), Đức Phật dạy: “Có hai hạng người khó tìm ở đời: người biết ơn và người biết đền ơn.”

(5) Kinh Thiện Sanh, tiếng Pāli là Sigālovāda Sutta, là bài kinh thứ 31 trong Trường Bộ Kinh (Dīgha Nikāya 31) của hệ Nikāya Nam truyền. Trong Hán tạng, kinh tương đương là Thi-ca-la-việt Lục phương lễ kinh (尸迦羅越六方禮經), thuộc quyển 11 của Trường A-hàm Kinh (長阿含經, kinh số 16). Đây là bản kinh nổi tiếng bàn về luân lý xã hội và đạo đức Phật giáo tại gia, trong đó Đức Phật giảng về bổn phận giữa cha mẹ – con cái, thầy – trò, vợ – chồng, bạn bè, chủ – tớ và cư sĩ – sa môn. Riêng đối với mối quan hệ thầy trò, kinh dạy người đệ tử phải kính phụng sư trưởng bằng năm điều: hầu hạ, lễ kính cúng dường, tôn trọng, vâng lời dạy bảo và ghi nhớ điều thiện lành đã học; ngược lại, người thầy cũng phải tận tâm giáo dưỡng, bảo hộ và dẫn dắt học trò trên con đường đạo đức và trí tuệ.

--- --- ---

Phùng Anh Quốc/Thư viện Huệ Quang

Chân dung Đại lão Hoà thượng Thích Giác Nhiên (1878–1979)

Ảnh tư liệu tại Tổ đình Thiền Tôn

Thi kệ viết bằng mực son của Tổ Thanh Ninh Tâm Tĩnh:

神功如是無邊量
普護十方妙力持
承佛威神能化此
覺悟帬生雨及时

Thần công như thị vô biên lượng
Phổ hộ thập phương diệu lực trì
Thừa Phật uy thần năng hoá thử
Giác ngộ quần sanh vũ cập thì.

Thượng toạ Thích Nguyên Minh, truyền thừa đời thứ 5 Tổ đình Tây Thiên đang xem bộ kinh Hoa Nghiêm của Tổ Thanh Ninh Tâm Tĩnh.

Dòng chữ “Thâm ký”.

Thi kệ:

神功法界必周徧
一切衆生咸仰賴
威灵顯赫甚奇哉
龍王化雨一辰開

Thần công pháp giới tất chu biến
Nhất thiết chúng sanh hàm ngưỡng lại
Uy linh hiển hách thậm kỳ tai
Long Vương hoá vũ nhất thần khai.

và dòng chữ:
“Bốn câu trên là của bổn sư, bốn câu dưới nương theo ý bổn sư mà phụng đề.”

Bộ kinh Hoa Nghiêm được trân tàng tại Tổ đình Thiền Tôn.

 

CHIA SẺ
Tưởng niệm Ân Sư

Tra cứu thư mục

Chọn thể loại:

Tặng sách - sách tặng

Tặng sách - sách tặng

Liên kết ngoài

Liên kết ngoài
Liên kết ngoài
Liên kết ngoài
Liên kết ngoài
Liên kết ngoài
Liên kết ngoài