𝐃𝐢𝐞̣̂𝐮 𝐏𝐡𝐚́𝐩 𝐋𝐢𝐞̂𝐧 𝐇𝐨𝐚 𝐊𝐢𝐧𝐡 𝐓𝐡𝐚𝐢 𝐓𝐨̂𝐧𝐠 𝐇𝐨̣̂𝐢 𝐍𝐠𝐡𝐢̃𝐚 𝐥𝐮̛𝐮 𝐭𝐚̣𝐢 𝐓𝐨̂̉ đ𝐢̀𝐧𝐡 𝐐𝐮𝐨̂́𝐜 𝐀̂𝐧

𝐃𝐢𝐞̣̂𝐮 𝐏𝐡𝐚́𝐩 𝐋𝐢𝐞̂𝐧 𝐇𝐨𝐚 𝐊𝐢𝐧𝐡 𝐓𝐡𝐚𝐢 𝐓𝐨̂𝐧𝐠 𝐇𝐨̣̂𝐢 𝐍𝐠𝐡𝐢̃𝐚 𝐥𝐮̛𝐮 𝐭𝐚̣𝐢 𝐓𝐨̂̉ đ𝐢̀𝐧𝐡 𝐐𝐮𝐨̂́𝐜 𝐀̂𝐧

𝐁𝐚̉𝐧 𝐃𝐢𝐞̣̂𝐮 𝐏𝐡𝐚́𝐩 𝐋𝐢𝐞̂𝐧 𝐇𝐨𝐚 𝐊𝐢𝐧𝐡 𝐓𝐡𝐚𝐢 𝐓𝐨̂𝐧𝐠 𝐇𝐨̣̂𝐢 𝐍𝐠𝐡𝐢̃𝐚 𝐥𝐮̛𝐮 𝐭𝐚̣𝐢 𝐓𝐨̂̉ đ𝐢̀𝐧𝐡 𝐐𝐮𝐨̂́𝐜 𝐀̂𝐧 (𝐜𝐨̂́ đ𝐨̂ 𝐇𝐮𝐞̂́) - 𝐓𝐮̛ 𝐥𝐢𝐞̣̂𝐮 𝐇𝐚́𝐧 𝐍𝐨̂𝐦 𝐏𝐡𝐚̣̂𝐭 𝐠𝐢𝐚́𝐨 𝐜𝐨́ 𝐠𝐢𝐚́ 𝐭𝐫𝐢̣ đ𝐚̣̆𝐜 𝐛𝐢𝐞̣̂𝐭

1. 𝑲𝒉𝒂́𝒊 𝒒𝒖𝒂́𝒕 𝒗𝒂̆𝒏 𝒃𝒂̉𝒏 𝑫𝒊𝒆̣̂𝒖 𝑷𝒉𝒂́𝒑 𝑳𝒊𝒆̂𝒏 𝑯𝒐𝒂 𝑻𝒉𝒂𝒊 𝑻𝒐̂𝒏𝒈 𝑯𝒐̣̂𝒊 𝑵𝒈𝒉𝒊̃𝒂

Tổ đình Quốc Ân không chỉ lưu trữ những Di sản vô giá về thiền phái, truyền thừa, nghệ thuật và văn hóa mà nơi đây còn lưu trữ hệ thống thư tịch Hán Nôm Phật giáo mang giá trị lớn, tính nghiên cứu cao, hiện tồn độc bản.

Trong số Di sản Hán Nôm Phật giáo hiện tồn tại Tổ đình Quốc Ân có bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Thai Tông Hội Nghĩa 妙法蓮華經台宗會義 còn gọi là Pháp Hoa Hội Nghĩa 法華會義hiện tồn đủ bộ 08 cuốn. Bản Kinh ra đời tại Trung Hoa vào giai đoạn giao tranh của hai triều đại Minh - Thanh niên hiệu Thuận Trị thứ 6 (nhà Thanh), Vĩnh Lịch thứ 3 (nhà Minh) (1649 bắt đầu trước tác, 1650 hoàn thành). Giữa khoảng chuyển giao lịch sử ấy thiền sư Trí Húc(1) tự xưng là Tư Thục Thiên Thai(2) 智旭 - 私淑天台 đã nghiên cứu sâu tư tưởng Pháp hoa của ngài Trí Giả đại sư 智者大師 lĩnh ngộ giáo nghĩa tông Thiên Thai. Qua quá trình nghiên cứu, đại sư Trí Húc cho rằng: Những ghi chép của tôn giả Chương An(3) 章安尊者 tạo thành Pháp hoa tam đại bộ 法華三大部 do Trí Giả đại sư 智者大師giảng dạy, dẫu có phù hợp ý của Đại sư nhưng văn nghĩa có thể chưa toàn chuẩn; đối với hai tác phẩm của tôn giả Kinh Khê Trạm Nhiên(4) 荊溪湛然 lại cho rằng: Tuy văn nghĩa sâu sắc, hiển bày được chỗ cốt yếu nhưng chưa tỏ hết được diệu nghĩa. Cho nên Trí Húc đại sư trên cơ sở của “tam bộ nhị sớ(5)” đã dung hội giáo nghĩa tư tưởng của các bản Kinh, các thế hệ tổ sư tông Thiên Thai, trước tác tác phẩm Pháp hoa hội nghĩa theo quan điểm của bản thân, đồng thời chia thành chương, mục để người học đương thời dễ nắm bắt.

Văn bản Pháp hoa hội nghĩa đầu tiên truyền vào nước ta chưa thể xác định, đến nay tại một số Tổ đình khu vực miền Trung và Trung Nam Bộ còn lưu trữ được một số bản như sau:

1/ Tổ đình Báo Quốc - Thừa Thiên Huế hiện tồn 01 bản đủ 08 cuốn; 1 bản khuyết (2 tập).

2/ Tổ đình Quốc Ân - Tp. Huế hiện tồn 01 bản đủ 08 cuốn; 1 bản khuyết (còn 3 tập).

3/ Chùa Thiền Tôn - Tp. Huế lưu 01 bản khuyết (hiện tồn tập 1)

4/ Chùa Ba Phong - Quảng Nam lưu 01 bản khuyết (hiện tồn tập 1, tập 6)

5/ Chùa Hương Tích - Phú Yên lưu 01 bản khuyết (hiện tồn tập 2)

6/ Thư viện Huệ Quang - TP. HCM lưu 01 bản khuyết (tồn tập 6) ký hiệu ACLUAN – 0024.

Trong số những bản hiện tồn thì bản chùa Quốc Ân còn lưu gần như đầy đủ các trang phương danh công đức, đây là phần quan trọng nhất lưu dấu về chư vị tổ sư các thiền phái và Vương tử, hội chủ phát tâm ấn tống Kinh. Đồng thời là minh chứng cho vị thế của bản Kinh trong các thiền phái.

2. 𝑳𝒖̛𝒐̛̣𝒄 𝒌𝒉𝒂̉𝒐 𝒗𝒂̆𝒏 𝒃𝒂̉𝒏 𝑷𝒉𝒂́𝒑 𝒉𝒐𝒂 𝒉𝒐̣̂𝒊 𝒏𝒈𝒉𝒊̃𝒂

Theo như ghi chép của tác giả, cấu trúc Diệu pháp liên hoa kinh thai tông hội nghĩa gồm 16 quyển “共計會義一十六卷”(6), giảng giải Kinh Pháp hoa theo motip trước giải thích đề mục, sau sớ giải nội dung Kinh văn của 28 phẩm Kinh Pháp hoa.

Toàn Kinh chia thành 16 quyển, số quyển này được ghi trong phần Bản tâm của mỗi cuốn sách, “法華會義一” cho đến “法華會義十六”. Đây là số quyển mà tác giả phân chia khi trước tác chứ không phải số quyển vật lý (số cuốn sách) hoặc các quyển trước từng chi phần.

Cấu trúc và cách bố trí các chi phần kinh như sau: Toàn Kinh được đóng thành 08 cuốn sách, mỗi cuốn sách là 1 hoặc 2 quyển, chứa nội dung từ 2 đến 4 chi phần. Tổng cộng cấu trúc của bản Pháp hoa hội nghĩa gồm có: 16 quyển/18 chi phần/28 phẩm Kinh Pháp hoa; cuối mỗi chi phần có thêm trang phương danh công đức khắc in Kinh.

3. 𝑴𝒐̣̂𝒕 𝒗𝒂̀𝒊 𝒅𝒂̂́𝒖 𝒕𝒊́𝒄𝒉 𝒗𝒆̂̀ 𝒄𝒉𝒖̛ 𝒗𝒊̣ 𝑻𝒐̂̉ 𝒔𝒖̛ 𝒗𝒂̀ 𝒄𝒂́𝒄 𝑻𝒉𝒊𝒆̂̀𝒏 𝒑𝒉𝒂́𝒊 𝒒𝒖𝒂 𝒃𝒂̉𝒏 𝑲𝒊𝒏𝒉 𝑷𝒉𝒂́𝒑 𝑯𝒐𝒂 𝑯𝒐̣̂𝒊 𝑵𝒈𝒉𝒊̃𝒂

Qua khảo sát của chúng tôi, văn bản Pháp hoa hội nghĩa là bản khắc in có nhiều Long bài, Hà diệp ký nhất trong các văn bản về Kinh Pháp hoa. Những họa đồ này được phân chia thứ bậc một cách có chủ đích rõ ràng, quan phương. Đối với những thông tin liên quan tới đế vương, đất nước thì sử dụng Long bài có đế cổ bồng hoặc hoa sen trên cổ bồng; với thông tin về chư vị tổ sư và tín chủ viết chữ trên Hà diệp ký, có đế và tòa sen hoặc ghi trên văn bản mà không trang trí. Điều này sẽ thấy rõ qua việc khảo sát, giải độc từng trang của mỗi chi phần trong văn bản.

𝑪𝒖𝒐̂́𝒏 𝒕𝒉𝒖̛́ 𝒏𝒉𝒂̂́𝒕, 𝒕𝒐̛̀ 𝒄𝒖𝒐̂́𝒊 𝒏𝒉𝒂̂́𝒕 𝒄𝒉𝒊 𝒏𝒉𝒂̂́𝒕 𝒎𝒂̣̆𝒕 𝒂, khắc Long bài to, trên đầu có Long phù, hai hình rồng chầu hai bên, đế khắc hình đài sen, dưới hoa sen không có cổ bồng, nội dung ghi: Hoàng đế đương triều, Ngài ra lệnh thợ khắc [khắc] toàn bộ bản pháp bảo này để lưu thông. Công đức [này] trên báo ơn Phật, tổ, trời đất, thứ đến báo đức của tổ tông, tiên vương. Cung kính mong rằng: Ngôi vương nối mãi, Linh sơn ban thụ ký, mãi vì Phật pháp vững vàng như thành trì. Đạo Phật hưng sùng, xe pháp thường quay. Vận nước vững bền, chính sách thịnh đáng, đức hợp đất trời, sáng như nhật nguyệt, muôn nước đều chầu, man di thống thuộc. Muôn dân ngợi ca thái bình, nơi nơi đội ơn đức trị. Gió hòa mưa thuận, nước thái dân an, phổ rộng khắp dân được ân triêm giáo hoá. Nhằm ngày tốt tháng mạnh Đông năm Vĩnh Khánh thứ 3 (1731), Thích [tử] Tỷ khiêu Quang Việt kính cẩn ghi. 當今國主, 御命梓匠全刋法寶流通。 功徳上酬佛祖天地之恩, 次答先王祖宗之德。㳟惟:王上遥承,靈山記嘱,長為佛法金湯。佛道興崇,法輪常轉。國祚永固,𥈠算遐昌,德合乾坤,明昭日月,棲航萬國,冠御百蠻。 人人歌樂昇平,處處仰霑德治。 風調兩順,國泰民安,普及群黎同霑至化。 時,永慶三年孟冬穀旦。 釋比丘光越和南敬識.

Trang văn bản này cung cấp thông tin niên đại của văn bản là năm 1731, bản Kinh được khắc in theo lệnh của Hoàng đế đương triều, và có thể vị được giao nhiệm vụ chủ trì việc khắc in này là Tỷ khiêu Quang Việt, ngài thuộc đời thứ 34 dòng Lâm Tế, hiệu Bích Phong, khai sơn chùa Kim Tiên.

𝑻𝒐̛̀ 𝒄𝒖𝒐̂́𝒊 𝒏𝒉𝒂̂́𝒕 𝒄𝒉𝒊 𝒏𝒉𝒂̂́𝒕, 𝒎𝒂̣̆𝒕 𝒃 khắc một Hà diệp ký có đế hình lục lăng kê hình hoa sen, trên đầu trùm lá sen rủ, có dây ôm hai bên khung bài. Trên đó ghi tên tín chủ phát tâm trợ khắc: Hội chủ Nguyễn Thị Hải pháp danh Giới Bồi phát tâm cúng tiền trợ khắc để cầu nguyện [...] [mọi người dẫu] chỉ tu được mảnh duyên lành đều kết được quả Bồ đề. Lại mong cho […] cát tường như ý. 會主阮氏海法名界培彂心喜助貲刻㳟祈現[...] 凡俢片善之縁永結菩提之果。更冀 [...] 吉祥如意. Trên đây đề cập tới hội chủ Nguyễn Thị Hải pháp danh Giới Bồi, bà là hội chủ - người đứng đầu của một khuông hội, (một nhóm Phật tử trên địa bàn xóm hoặc thôn làng, hoặc một ngôi chùa) cũng là nhân vật xuất hiện nhiều trong các bản Kinh sách với vai trò hội chủ và cúng dàng tiền khắc in. Qua khảo sát cho thấy, bà là hội chủ đầu tiên của chùa Khánh Vân; húy Từ Thiện, pháp danh Giới Bồi theo kệ truyền thừa của phái Thọ Xương dòng Tào Động từ thiền sư Thạch Liêm; hiện nay tại chùa Khánh Vân vẫn còn Bài vị phụng thờ bà. Không chỉ cúng tiền khắc Kinh Pháp hoa hội nghĩa, Bà còn là hội chủ đứng ra san khắc nhiều văn bản kinh Phật khác như: Lăng già A bạt đa la bảo kinh, Hoa Nghiêm Kinh.

Cuối nhất chi nhị, mặt a khắc một Long bài trên đỉnh có Long phù theo lối rồng dây, hai bên rồng chầu, dưới có hoa sen và đế lục lăng, rồng ở đây khắc dây, mảnh, hoa văn mềm mại và rõ hình bông hoa. Đây là Long bài có nét riêng biệt nhất trong toàn bộ các Long bài trong văn bản, nội dung ghi: Vương Thái tử Nguyễn Phúc Khoát (1714 - 1765) trợ tiền khắc công đức […] nhằm ngày tốt tháng mạnh đông năm Vĩnh Khánh thứ 3 (1731) [...] 王太子阮福闊喜助貲刻功徳 [...]永慶三年孟冬吉旦和南謹識.

Như vậy, thông tin niên đại khắc văn bản là năm 1731 niên hiệu Vĩnh Khánh thứ 3 được đưa ra hai lần: Thứ nhất mặt a tờ cuối của Q. nhất chi nhất do Tỷ khiêu Quang Việt kính ghi. Vị thiền sư này có thể là chủ sự điều hành việc san khắc kinh theo lệnh của “đương kim Quốc Chủ” Nguyễn Phúc Chú ((1697-1738) cha của Vương tử Nguyễn Phúc Khoát). Thứ hai: xuất hiện với riêng tên của người trợ tiền in kinh là Vương thái tử Nguyễn Phúc Khoát, người sau này kế nghiệp là vị chúa thứ 8 của triều Nguyễn. Như vậy, tập thứ nhất gồm hai chi: Chi nhất do Hội chủ Nguyễn Thị Hải cúng tiền in kinh và chi nhị do Vương thái tử Nguyễn Phúc Khoát trợ tiền khắc in, niên đại văn bản là năm 1731.

Tập 2, tờ cuối của Q. nhất chi tứ, mặt b ghi phương danh chư vị Tổ sư cúng dàng in kinh, gồm có:

Sa môn [pháp] tự Thiệt Diệu hiệu Liễu Quán ở chùa Viên Thông

Sa môn tự Minh Trí và Sa di tự Thiệt Đồ ở chùa Tây Thiền

Sa môn tự Mật Vân và Sa môn pháp danh Giới Từ ở chùa Quốc Bảo

Sa môn Tính Thiệt hiệu Minh Luân và Sa môn tự Phúc Thiền ở chùa Bảo Sơn

Sa di Thế Giới tự Liên Quang, Sa môn pháp danh Giới Hán, Sa di Thiệt Quang hiệu Đức, Sa môn Tuyết Kiều, Sa di pháp danh Vô Vi và Sa di tự Nhất Nghĩa ở am Tụ Long, nguyện sinh nơi đài sen chín tầng thành ngôi Chính giác 圓通寺,沙門字實耀號了觀。西禅寺,沙門字明智、沙彌字實圖。國寶寺,沙門字密雲、沙門法名界慈。寶山寺,沙門性實號明輪、沙門字福禪。聚龍庵,沙爾世界字蓮光、沙門法名界漢、沙彌實光號德、沙門字雪橋、沙彌法名無爲、沙彌字一義。願九品蓮華成等正覺者也 .

Phần phương danh này, trong số những pháp danh của sa môn, Sa Di cúng dàng, hiển hiện dòng chữ đầu tiên là nhắc đến thiền sư Thiệt Diệu Liễu Quán (1667-1742) người khai sáng dòng thiền Liễu Quán, thứ đến còn nhắc tới sa môn Minh Trí, theo chúng tôi được biết, Sa môn Minh Trí là đệ tử xuất gia của ngài Tánh Đề Đạo Nguyên, được ban pháp danh là Hải Trình, tự Minh Trí; là huynh đệ với ngài Minh Giác Kỳ Phương - tổ sư trụ trì đời thứ 3 chùa Thập Tháp Di Đà. Ngài Minh Trí vốn là người thôn Hoa Vân, huyện Mộ Đức tỉnh Quảng Ngãi, hiện nay vẫn còn Tháp mộ tại Huế, một ngôi tháp mộ mang lối kiến trúc tiền khúc hậu phương của Tháp mộ dòng dõi võ tướng.

Tập 3, mặt b tờ cuối Q. nhị chi nhất ghi: Sa môn Nguyên Thiều tự Hoán Bích hiệu Thọ Tông hòa thượng. Thiên Mụ tự chúng đẳng nguyện đăng giác ngạn giả 沙門元韶字煥碧號夀宗和尙。天姥寺眾等願登覺岸者.

Như vậy, nhị chi nhất đề tên của Tổ sư Nguyên Thiều và tăng chúng chùa Thiên Mụ cúng dàng in một phần của bộ Kinh này. Hàng chữ này vẫn còn tồn nghi, chúng tôi chưa lý giải được tại sao lại đề danh ngài Nguyên Thiều và Tăng chúng chùa Thiên Mụ cùng nhau như có một mối liên tới Trú xứ Thiên Mụ hoặc bản in Kinh Pháp hoa.

Văn bản này ghi nhận nhiều thông tin về chư vị tổ sư và Phật tử thuộc các thiền phái khác nhau cùng phát tâm khắc in kinh, qua đó tạo nên giá trị tư liệu và nghiên cứu đặc biệt; hơn nữa, căn cứ vào niên đại ghi năm Vĩnh Khánh thứ ba (1731), khi đối chiếu với một số nhân vật xuất hiện trong văn bản, có thể tiếp tục làm sáng tỏ bối cảnh lịch sử và quá trình lưu truyền của tư liệu này.

- 𝑽𝒂̆𝒏 𝒃𝒂̉𝒏 𝑷𝒉𝒂́𝒑 𝑯𝒐𝒂 𝑯𝒐̣̂𝒊 𝑵𝒈𝒉𝒊̃𝒂 𝒗𝒂̀ 𝒉𝒂𝒊 𝒃𝒂̣̂𝒄 𝒔𝒐̛ 𝑻𝒐̂̉ 𝒄𝒖̉𝒂 𝒉𝒂𝒊 𝒕𝒉𝒊𝒆̂̀𝒏 𝒑𝒉𝒂́𝒊

Thứ nhất, Tổ sư Liễu Quán (1667 - 1742) so sánh với năm 1731 thì khi đó đương lúc Tổ sư Liễu Quán 64 tuổi. Như vậy Ngài đã đích thân chứng minh và trợ duyên cho việc khắc bản kinh này. Tuy rằng, trong các thiền thoại của Tổ sư không thấy nhắc tới tư tưởng Pháp hoa, nhưng tổ sư lại là người đứng đầu trong danh sách chư Tăng trợ khắc in kinh. Phải chăng, chính Tổ sư đã dấy lên tinh thần nghiên cứu, khắc in Kinh Pháp hoa trong thiền phái sau này, để các thế hệ đệ tử từ đó tới nay vẫn luôn kế thừa và triển khai một cách mạnh mẽ và qui mô rộng lớn.

Thứ hai, Tổ sư Nguyên Thiều, theo hành trạng thì Tổ sư viên tịch năm 1728, mà niên đại bản Kinh là 1731, tức là tổ sư đã viên tịch trước khi bản in ra đời 3 năm. Đối với vấn đề này, chúng tôi đưa ra hai lập luận: Thứ nhất, việc khắc bộ kinh này đã manh nha hoặc được thực hiện từ khi tổ sư Nguyên Thiều còn tại thế. Vì là bộ kinh lớn, quá trình thực hiện trong nhiều năm, niên đại trong bản khắc được ghi khi đã hoàn thành, cho nên tên của tổ sư Nguyên Thiều xuất hiện trong phần trợ khắc. Thứ hai, sau khi tổ sư Nguyên Thiều viên tịch thì văn bản mới được lệnh san khắc, thế hệ học trò của thiền sư đã đề danh ngài vào như một sự tri ân với chư Tổ.

Từ đây có thể suy luận rằng, việc san khắc Pháp hoa hội nghĩa không phải là một hoạt động riêng lẻ, mà là kết quả của một quá trình lâu dài, mang tính tập thể của cả một truyền thống tu học của chư Tăng, Phật tử Phật giáo Đàng Trong thời đó.

Từ những cứ liệu trên, có thể khẳng định rằng văn bản này không chỉ là một bản kinh chú giải đơn thuần, mà còn là một tư liệu lịch sử có giá trị đặc biệt, phản ánh đồng thời ba phương diện: thứ nhất: sự tiếp nhận tư tưởng Thiên Thai - Pháp Hoa trong các thiền phái. Thứ hai: sự dung thông và tương quan giữa các thiền phái tại Đại Việt. Thứ ba vai trò các Phật tử không phân chia môn phái tạo thành mạng lưới bảo trợ Phật giáo và lưu truyền kinh điển. Chính vì vậy, sự hiện diện của những bậc danh tăng và tầng lớp hộ pháp trong phần phương danh đã góp phần khẳng định vị thế tối thượng của Kinh Pháp Hoa – vốn được tôn xưng là “chúng kinh chi vương” – và đồng thời nâng cao giá trị đặc biệt của bản Diệu pháp liên hoa kinh thai tông hội nghĩa trong hệ thống thư tịch Hán Nôm Phật giáo hiện tồn.

---- ----

Chú thích:

(1) Đại sư Trí Húc 智旭大師(1599 - 1655) còn gọi là Ngẫu Ích đại sư, sống vào cuối thời Minh đầu thời Thanh bên Trung Hoa, Tổ thứ chín của Tịnh độ tông. Họ tục là Chung, người huyện Ngô, Giang Tô, hiệu “Bát Bất Đạo Nhân”, biệt hiệu “Tây Hữu”, hiệu về già là “Ngẫu Ích lão nhân”. Do cuối đời ở núi Linh Phong (nay thuộc huyện An Cát, tỉnh Chiết Giang) xây chùa, lập hội, trước tác sách, nên đời sau gọi là “Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư”.

(2) Ngài Trí Húc được tôn xưng là tổ sư thứ 9 của Tịnh độ tông. Không chỉ siêng tu và trước tác các bản sớ giải về Tịnh độ mà ngài còn nghiên cứu và lấy nền tảng tư tưởng tông Thiên Thai làm nền tảng tu học融天台入淨土. Tuy nhiên, Ngài đưa ra quan điểm “究心台部而不肯为台家子孙” dốc lòng nghiên cứu giáo học của Thiên Thai tông, nhưng không tự xem mình là người kế thừa chính thống của Thiên Thai tông

(3) Tôn giả Chương An 章安尊者(561年—632年)là vị cao tăng đời Tùy, đệ tử của Thiên Thai Trí Giả đại sư, thiền sư Chương An Quán Đỉnh là người đã ghi chép và biên tập lại những lời giảng giải của Trí Giả đại sư, góp công lớn trong việc hình thành Pháp hoa tam đại bộ.

(4) Kinh Khê Trạm Nhiên 荊溪湛然 (711–782) là vị tổ thứ 9 của tông Thiên Thai, ngài đã trước tác hai tác phẩm: Diệu pháp liên hoa huyền nghĩa thích thiêm và Diệu pháp liên hoa văn cú kí.

(5) Tam bộ nhị sớ: chỉ cho Pháp hoa Tam đại bộ và hai bộ sớ giải: Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa thích thiêm và Diệu pháp liên hoa kinh văn cú ký của ngài Kinh Khê Trạm Nhiên.

(6) 法華經會義》卷7:「共計會義一十六卷,」(CBETA 2025.R3, X32, no. 616, p. 223b6-7 // R50, p. 792b5-6 // Z 1:50, p. 396d5-6)

--- --- ---

Bài: Thích Minh Trí - Đông Các tự

Ảnh: Phùng Anh Quốc

 

CHIA SẺ
Tưởng niệm Ân Sư

Tra cứu thư mục

Chọn thể loại:

Tặng sách - sách tặng

Tặng sách - sách tặng

Liên kết ngoài

Liên kết ngoài
Liên kết ngoài
Liên kết ngoài
Liên kết ngoài
Liên kết ngoài
Liên kết ngoài