MỘC BẢN THIỀN MÔN NHẬT TỤNG CHÙA THIỀN TÔN: TỪ NGHI THỨC TỤNG NIỆM ĐẾN DI SẢN HÁN NÔM PHẬT GIÁO
1. 𝐺𝑖𝑜̛́𝑖 𝑡ℎ𝑖𝑒̣̂𝑢 𝑚𝑜̣̂𝑐 𝑏𝑎̉𝑛 𝑐ℎ𝑢̀𝑎 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑇𝑜̂𝑛
Với chiều dài lịch sử hơn 300 năm, chùa Thiền Tôn không chỉ là thánh tích lưu dấu chân khai sơn, lập phái của Tổ sư Liễu Quán mà còn là trung tâm khắc in kinh sách lớn của xứ Kinh kỳ [1] trong giai đoạn đầu triều Nguyễn. Tại đây, truyền thống “𝑡𝑜̂̉ 𝑡𝑜̂̉ 𝑡𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡𝑟𝑢𝑦𝑒̂̀𝑛”, “𝑠𝑢̛ 𝑠𝑢̛ 𝑡𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑢̣” không chỉ biểu hiện qua dòng pháp mạch thiền học, mà còn được vật chất hóa qua hệ thống mộc bản - phương tiện lưu giữ và truyền bá kinh điển Phật giáo.
Hiện nay, chùa Thiền Tôn còn lưu giữ một số mộc bản, trong đó bộ 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔 niên đại Gia Long thứ 13 (1814) do Tổ sư trụ trì đời thứ 6 – ngài Đạo Tâm Trung Hậu (? - 1834) trùng khắc. Bộ mộc bản hiện còn tương đối đầy đủ và được cất giữ ở nơi tôn nghiêm như một pháp bảo vô giá. Điều này cũng được thể hiện rõ qua dấu tích lưu trên ván khắc: Bản [ván kinh này] lưu giữ tại chùa Thiền Tôn núi Thiên Thai để làm pháp bảo“天台禪宗寺藏板以為法寶” .
𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔 là tên gọi chung của tập hợp những bài kinh, chú, kệ, khoa nghi,… được tăng ni sử dụng để tụng niệm, thực hiện trong thời khóa sáng, chiều và các kỳ an cư, lễ tiết ở chốn thiền môn. Cấu trúc các bản 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔 thường không hoàn toàn toàn giống nhau, tùy từng vùng miền mà có dị biệt, tùy theo nơi khắc ván mà có điều chỉnh riêng. Tựu trung đây là văn bản mang tính đặc thù trong đời sống thiền môn, giúp chuẩn hóa thời khóa sinh hoạt, hành trì của tăng ni nói chung và Phật tử nói riêng.
Bộ mộc bản 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔 tại chùa Thiền Tôn được khắc trong khoảng thời gian từ ngày tốt, tháng 3 đến ngày tốt tháng 5 năm Giáp Tuất niên hiệu Gia Long thứ 13 嘉隆十三年季春月吉日;天運甲戌年仲夏月吉日。(1814) cũng trong năm này, ngài Đạo Tâm Trung Hậu còn tổ chức khắc in các bản kinh: Kim Cang kinh hiện còn 12 tấm ván; Di Đà - Phổ Môn hợp bản hiện còn 15 tấm ván; Thọ mạng Hồng danh Vu Lan hợp bản hiện còn 10 tấm ván. Mộc bản của cả 03 bộ kinh này hiện đang được lưu trữ tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế [2]. Riêng bộ 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔 vẫn luôn được cất giữ tại chùa Thiền Tôn đến nay đã trải qua 212 năm. Hiện còn 68 ván với 122 mặt khắc, trong đó có 14 ván khắc một mặt và 54 ván khắc hai mặt (trong số này có 08 tấm ván kinh, trước đây đưa lên Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế cơ sở Hồng Đức để trưng bày. Tuy nhiên, trong đợt sưu tầm và số hóa tư liệu Phật giáo của Thư viện Huệ Quang và Trung tâm Liễu Quán lần này, bản tự đã thỉnh hồi 08 ván ấy về lại để phục vụ cho việc thống nhất số hóa hệ thống mộc bản, in bản giấy cúng dường chư Tôn đức và lưu trữ tại Chùa).
2. 𝐶𝑎̂́𝑢 𝑡𝑟𝑢́𝑐 𝑛𝑜̣̂𝑖 𝑑𝑢𝑛𝑔 𝑏𝑎̉𝑛 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔
Về cơ bản cấu trúc các phần của bản kinh vẫn còn đủ, từ ván tranh Phật, long bài chúc ngữ đầu kinh đến ván tranh đức hộ Pháp cuối kinh. Tuy nội dung các trang kinh bị mòn ván, mất dạng chữ, khuyết số trang nhưng những gì còn lại đủ để làm căn cứ, vật chứng xác tín cho việc khảo chiếu xuất nhập với các văn bản hiện tồn, đồng thời là minh chứng ghi lại dấu tích quá trình khắc in, lưu truyền của bản kinh cũng như cho nghệ thuật điêu khắc, họa tiết hoa văn độc đáo mang màu sắc thời đại.
Cấu trúc nội dung của bản 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔 gồm các phần như sau:
1/ 朝時課誦 Công phu khuya : 𝐿𝑎̆𝑛𝑔 𝑁𝑔ℎ𝑖𝑒̂𝑚 𝑐ℎ𝑢́, Đ𝑎̣𝑖 𝐵𝑖 𝑐ℎ𝑢́, 𝐵𝑎́𝑡 𝑛ℎ𝑎̃ 𝐵𝑎 𝑙𝑎 𝑚𝑎̣̂𝑡 đ𝑎 𝑡𝑎̂𝑚 𝑘𝑖𝑛ℎ, 𝐾ℎ𝑜̛̉𝑖 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑘𝑒̣̂, 𝐻𝑜̂̀𝑖 ℎ𝑢̛𝑜̛́𝑛𝑔 𝑣𝑎̆𝑛,...
2/ 暮時課誦Thời khóa chiều: 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡ℎ𝑢𝑦𝑒̂́𝑡 𝐴 𝐷𝑖 Đ𝑎̀ 𝑘𝑖𝑛ℎ, 𝑙𝑒̂̃ 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑠𝑎́𝑚 ℎ𝑜̂́𝑖 𝑣𝑎̆𝑛, 𝑀𝑜̂𝑛𝑔 𝑠𝑜̛𝑛 𝑡ℎ𝑖́ 𝑡ℎ𝑢̛̣𝑐 𝑣𝑎̆𝑛; 𝐻𝑜̂̀𝑖 ℎ𝑢̛𝑜̛́𝑛𝑔 𝑣𝑎̆𝑛; 𝑇𝑎̂𝑦 𝑝ℎ𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡𝑎́𝑛, 𝑇ℎ𝑖𝑒̣̂𝑛 Đ𝑎̣𝑜 ℎ𝑜̀𝑎 𝑡ℎ𝑢̛𝑜̛̣𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑖̣ 𝐿𝑎̂𝑚 𝑡ℎ𝑢̣𝑦 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑝 𝑞𝑢𝑎́𝑛 𝑣𝑎̆𝑛.
3/ Các nghi hành trì khác như: 𝐶ℎ𝑢́𝑐 𝑇ℎ𝑎́𝑛ℎ 𝑛𝑔ℎ𝑖; 𝐶ℎ𝑢́𝑐 𝐺𝑖𝑎̀ 𝐿𝑎𝑚 𝑛𝑔ℎ𝑖; 𝑃ℎ𝑢́𝑛𝑔 𝐻𝑜𝑎 𝑁𝑔ℎ𝑖𝑒̂𝑚 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑘ℎ𝑜̛̉𝑖 𝑐ℎ𝑖̉ 𝑛𝑔ℎ𝑖; 𝐶ℎ𝑢́𝑐 𝑇ℎ𝑎́𝑛ℎ 𝑣𝑎̆𝑛,...
4/ Các bài tán thán Phật, tán thán Pháp và Tỳ ni, được trích dẫn từ các bài tán trong các bản Kinh như: 𝐻𝑖𝑒̂́𝑛 𝑇ℎ𝑎̣̂𝑝 𝑐𝑢́𝑛𝑔 𝑡𝑎́𝑛; 𝑃ℎ𝑎́𝑝 ℎ𝑜𝑎 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑡𝑎́𝑛; 𝐿𝑎̆𝑛𝑔 𝑁𝑔ℎ𝑖𝑒̂𝑚 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑡𝑎́𝑛; 𝑃ℎ𝑎̣𝑚 𝑣𝑜̃𝑛𝑔 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑡𝑎́𝑛; 𝑁𝑖𝑒̂́𝑡 𝑏𝑎̀𝑛 𝑠𝑎́𝑚 𝑡𝑎́𝑛; 𝑇𝑎𝑚 𝑚𝑢𝑜̣̂𝑖 𝑡ℎ𝑢̉𝑦 𝑠𝑎́𝑚 𝑡𝑎́𝑛; 𝑁𝑖𝑒̣̂𝑚 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑎́𝑛; 𝑇𝑎𝑚 𝑏𝑎̉𝑜 𝑡𝑎́𝑛; Đ𝑎̣𝑖 𝑏𝑖 𝑡𝑎́𝑛; 𝐻𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡𝑎́𝑛; 𝑋𝑎́ 𝑙𝑜̛̣𝑖 𝑡𝑎́𝑛; 𝐿𝑜𝑛𝑔 𝑣𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡𝑎́𝑛; 𝐶𝑜̂ ℎ𝑜̂̀𝑛 𝑡𝑎́𝑛.
5/ Các nghi cúng đàn như: 𝑇𝑟𝑎𝑖 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑛𝑔ℎ𝑖; 𝑆𝑎́𝑚 𝑡𝑟𝑎𝑖 𝑡ℎ𝑖𝑒̂𝑛 𝑝ℎ𝑎́𝑝 𝑛𝑔ℎ𝑖; 𝑁ℎ𝑖̣ 𝑡ℎ𝑜̛̀𝑖 𝑙𝑎̂𝑚 𝑡𝑟𝑎𝑖 𝑛𝑔ℎ𝑖,...
6/ Các bài kệ chú thường dùng: 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 đ𝑖̉𝑛ℎ 𝑡𝑜̂𝑛 𝑡ℎ𝑎̆́𝑛𝑔 Đ𝑎̀ 𝑙𝑎 𝑛𝑖 𝑐ℎ𝑢́; 𝑈𝑒̂́ 𝑡𝑖́𝑐ℎ 𝐾𝑖𝑚 𝑐𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑎̂̀𝑛 𝑐ℎ𝑢́; 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡ℎ𝑢𝑦𝑒̂́𝑡 𝑡𝑖𝑒̂𝑢 𝑡𝑎𝑖 𝑐𝑎́𝑡 𝑡𝑢̛𝑜̛̀𝑛𝑔 Đ𝑎̀ 𝑙𝑎 𝑛𝑖 𝑘𝑖𝑛ℎ; 𝑁𝑖𝑒̣̂𝑚 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑘ℎ𝑜̛̉𝑖 𝑐ℎ𝑖̉ 𝑛𝑔ℎ𝑖,...
7/ Không chỉ các thời khoá công phu hằng ngày, nghi thức tán tụng mà còn ghi chép các nghi thức hành trì cần có trong mùa an cư như: 摘鐘板Trích Chung bản. Các bài hồi hướng: 𝐻𝑜̂̀𝑖 ℎ𝑢̛𝑜̛́𝑛𝑔 𝑣𝑎̆𝑛; 𝐿𝑒̂̃ 𝑄𝑢𝑎́𝑛 𝐴̂𝑚 𝑣𝑎̆𝑛 𝑣𝑎̀ 𝑡𝑖𝑒̂̉𝑢 𝑙𝑢𝑎̣̂𝑡 𝑐ℎ𝑜 𝑡𝑖𝑒̂̉𝑢 𝑐ℎ𝑢́𝑛𝑔 ℎ𝑜̣𝑐 𝑛𝑎̆̀𝑚 𝑙𝑜̀𝑛𝑔 𝑛ℎ𝑢̛: 𝑄𝑢𝑦 𝑆𝑜̛𝑛 Đ𝑎̣𝑖 𝑉𝑖𝑒̂𝑛 𝑡ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑠𝑢̛ 𝑐𝑎̉𝑛ℎ 𝑠𝑎́𝑐ℎ 𝑣𝑎̆𝑛,...
Với những phần mục trên, có thể khẳng định đây là một bản nhật tụng quy mô lớn, nội dung hoàn bị, là một đại bản Nhật tụng được biên tập công phu nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt chốn thiền môn. Các thời khóa tụng niệm ngày đêm (朝時課誦, 暮時課誦) đều đầy đủ; tích hợp hệ thống nghi thức, văn tán, chú kệ và các pháp hành trì truyền thống. Trải qua năm tháng, bụi bám, ván mòn, chữ mờ, văn khuyết, thiếu trang, sứt cạnh, nhưng phần còn lại vẫn đủ độ tin cậy để làm cơ sở cho việc khảo chiếu, đối sánh với các dị bản hiện tồn, cung cấp những chứng cứ quan trọng về quá trình khắc in mang giá trị đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu văn bản học Hán Nôm Phật giáo cũng như khẳng định tính truyền thống của các nghi lễ Phật giáo từ xưa tới nay.
3. 𝐺𝑖𝑎́ 𝑡𝑟𝑖̣ 𝑛𝑔ℎ𝑖𝑒̂𝑛 𝑐𝑢̛́𝑢 𝑐𝑢̉𝑎 𝑚𝑜̣̂𝑐 𝑏𝑎̉𝑛 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔
Mộc bản 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔 được khắc in theo thể phương sách, mỗi mặt ván chia thành hai khuôn hình chữ nhật, phần cách giữa 1cm khắc đơn ngư vĩ tạo kết nối giữa hai khuôn. Sau khi in ra sẽ gấp đôi bản in, phần trung tâm kết nối trở thành mép ngoài của sách, hai lề ngoài của giấy được khâu lại thành gáy sách. Kích thước full ván không đồng nhất, dao động từ 40,5- 43,5 x 20,5 - 23cm; kích thước lòng ván mặc định là 20 x30cm. Xét về kỹ thuật in ấn trên cơ sở các văn bản hiện tồn, hình thức “𝑝ℎ𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑠𝑎́𝑐ℎ” kết cấu có bản tâm, ngư vĩ là kiểu in kinh sách phổ biến vào giai đoạn Lê - Nguyễn.
Trong số 122 mặt khắc còn tồn đến nay, 1/3 số đó đã bị mòn ván, mất dạng chữ, khuyết số trang. Ván hỏng ít nhất là mất dạng từ 1 đến 5 chữ; ván hỏng nhiều nhất chỉ có thể đọc được từ 10 đến 20 chữ. Có những ván chữ còn sắc nét nhưng mặt ván bị lấm, lớp keo dính vào kẽ chữ, đọng lại trên các nét, khi in ra vẫn đọc được chữ nhưng trang giấy bị lấm mặt chữ.
Đối chiếu bản giấy 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔 hiện tồn tại chùa Tường Vân, nhận thấy có 1 trang ghi số thứ tự tam 三; chiếu sang Mộc bản nhận thấy có 2 ván nội dung tương ưng. Mặt khắc thứ nhất số thứ tự thập nhị 十二; mặt khắc thứ hai, khuyết nội dung, mất chữ, số phần bản tâm. Căn cứ trên mộc bản có thể đoán định rằng bản in chùa Tường Vân là bản được in và trước khi có đợt bổ sung ván; lúc này ván đã mòn, có thể đã bị mẻ một phần của chữ thập 十nên chỉ còn 3 nét ngang, nhìn như chữ tam 三mà thực chất là thập nhị 十二. (Bản Thiền môn nhật tụng chùa Tường Vân tr.50). Khảo xuất nhập giữ văn bản hiện tồn thấy có hai điều: Thứ nhất mặt khắc số thứ tự thất thập bát hựu nhất 七十八又一(chúng tôi đặt là 78.1)hiện mộc bản vẫn còn mà bản giấy chùa Tường Vân không có trang này. Có thể, số hóa thiếu trang, có thể trang này lúc in ấn, đóng quyển bỏ sót. Tương tự với trang 九十七從二 (97.2) mộc bản khuyết mặt khắc này, và bản chùa Tường vân cũng khuyết chỉ thấy có trang 97.1 và 97.3 mà không có 97.2.
Những dấu vết này không đơn thuần là biểu hiện xuống cấp vật lý, mà chính là “𝑐ℎ𝑢̛́𝑛𝑔 𝑡𝑖́𝑐ℎ 𝑣𝑎̣̂𝑡 𝑐ℎ𝑎̂́𝑡” phản ánh rõ lịch sử, sự bào mòn tự nhiên qua quá trình in ấn kéo dài, điều kiện bảo quản chưa đảm bảo, cách lựa chọn và dùng mực in không phù hợp... tất cả đưa đến kết quả bộ ván khuyết hiện tồn. Tuy nhiên, chính những yếu tố này lại góp phần tạo nên “𝑙𝑖̣𝑐ℎ 𝑠𝑢̛̉ 𝑠𝑜̂́𝑛𝑔” của di sản và biểu hiện giá trị của mộc bản trên góc độ văn bản học. Bởi vì, ngay cả những phần khuyết thiếu vẫn mang giá trị tái hiện lịch sử lưu truyền và biến đổi từ mộc bản sang văn bản.
Khi trực tiếp in từng tấm ván, chúng tôi nhận thấy bộ mộc bản tồn tại hai loại hình rõ rệt: Nhóm thứ nhất: Chiếm đa số, ván khuôn kép, chữ mòn, thuộc lớp nguyên bản khắc từ niên đại Gia Long thứ 13 (1814); Nhóm thứ hai: ván bổ sung (khoảng 9 tấm), khuôn đơn, chữ sắc nét, gỗ nặng hơn, niên đại chưa xác định. Đáng chú ý là hiện tượng “𝑡𝑟𝑢̀𝑛𝑔 𝑣𝑎́𝑛”, khi các ván mới được bổ sung nhưng vẫn giữ lại ván cũ bị hư hỏng. Điều này tạo nên một cấu trúc mang tính “đ𝑎 𝑡𝑎̂̀𝑛𝑔”, trong đó các lớp khắc khác nhau cùng tồn tại, phản ánh quá trình tu sửa nhưng không loại bỏ quá khứ. Các ván trùng đó là: Ván thứ tự số 9, 10, 12, 26, 33, 34, 36, 46, 87. Trong số này trùng lặp này đều có: 1 ván hoặc bị mất số thứ tự, tên sách ở bản tâm, hoặc bị mòn chữ, mất dạng tranh, khuyết hình chữ, mẻ góc ván còn lại số ván được bổ sung đều còn tốt, sắc nét.
Bộ mộc bản này không chỉ nằm ở giá trị lịch sử mà đối với vấn đề văn bản học, chính hình thái vật chất của mộc bản - nơi lưu giữ đầy đủ nhất dấu vết lịch đại của quá trình khắc in, tu bổ và truyền thừa. Những hiện tượng như khuôn kép - khuôn đơn, sự tồn tại song song giữa ván nguyên khắc từ thời Gia Long thứ 13 (1814) và các ván bổ sung về sau, hay tình trạng trùng ván với mức độ hư hại khác nhau, đều là những “𝑐ℎ𝑢̛́𝑛𝑔 𝑐𝑢̛́ 𝑣𝑎̣̂𝑡 𝑐ℎ𝑎̂́𝑡” mà chỉ khi khảo sát trực tiếp trên mộc bản mới có thể nhận diện đầy đủ. Chính vì vậy mộc bản chính là bản gốc, lớp lang thứ nhất để căn cứ khảo dị với các văn bản hiện tồn.
Khảo sát văn bản, nếu chỉ dừng lại ở bản in giấy đã đóng quyển (không khảo mộc bản hoặc mộc bản đã mất), toàn bộ những lớp thông tin này gần như bị làm phẳng, khiến quá trình hình thành, tu sửa và lưu truyền văn bản bị che khuất.
Mỗi tấm ván, dù còn nguyên vẹn hay đã tàn khuyết, đều là kết tinh của một quá trình lao động công phu, phản ánh tâm huyết của chư Tổ trong việc hoằng truyền chính pháp. Trong bối cảnh chưa có công nghệ in hiện đại, việc khắc và in một bộ kinh là một công trình lớn, đòi hỏi kỹ thuật, thời gian và tiền bạc và sự kiên trì. Những ván khắc còn lại, dù khuyết mẻ hay mòn nét, vẫn mang giá trị đặc biệt: chúng lưu giữ dấu ấn hơn hai thế kỷ, phản ánh đời sống sinh hoạt, công phu tụng niệm, hành trì và sự truyền thừa trong chốn thiền môn. Các dấu vết mực, nét mòn, hay cả những lần bổ sung ván mới đều cho thấy văn bản không ngừng được sử dụng, thích ứng và tiếp nối. Ở đây, mộc bản không chỉ “𝑔ℎ𝑖” kinh, mà còn “𝑔ℎ𝑖” cả lịch sử hành trì và truyền thừa của dòng Thiền do Tổ sư Liễu Quán khai sáng.
Bộ mộc bản 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔 tại chùa Thiền Tôn không chỉ có giá trị về mặt nội dung kinh điển, mà còn là tư liệu quý giá cho nghiên cứu văn bản học, lịch sử in ấn và Phật giáo Việt Nam. Việc bảo tồn và nghiên cứu cần đặt trên nền tảng tôn trọng tính nguyên bản của mộc bản, xem đây là điểm khởi đầu bắt buộc trong mọi khảo cứu. Chỉ bằng cách quay về với mộc bản - nơi lưu giữ trọn vẹn nhất ký ức vật chất, để tiếp cận đầy đủ về lịch sử và tinh thần mà di sản này lưu giữ kéo dài hơn hai thế kỷ.
Bài khảo: Thích Minh Trí
Ảnh: Thư viện Huệ Quang
Chú thích:
[1] Kinh kỳ chỉ cho danh từ Xuân Kinh tức Kinh đô Phú Xuân xưa của nước Đại Việt ta. Từ này được khắc ngay trên chính bản gỗ kinh.
[2] Theo Thượng tọa Thích Không Nhiên, (2022), Tổng quan Tư liệu Hán Nôm chùa Thiền Tôn, Tạp chí Liễu Quán số 25, Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán - Huế.






















