TẤM BẢNG CHỮ THẢO TẠI TỔ ĐÌNH QUỐC ÂN
Tại tổ đình Quốc Ân có treo một tấm bảng gỗ, kích thước 59cm x 121cm, có bài tán được khắc chữ thảo, ít người có thể đọc được toàn văn. Nhân chuyến sưu khảo tại Tổ đình Quốc Ân, hai nghệ nhân Nguyễn Phước Bảo Đàn và Lê Thọ Quốc (Trung tâm Liễu Quán) đã rập được văn bản khá hoàn hảo. Thầy Thích Hải Hạnh đang làm việc tại Trung tâm Biên phiên dịch Tư liệu Phật giáo Quốc tế đã giúp phiên âm, dịch chú tấm bảng. Chúng tôi xin cống hiến đến bạn đọc một tư liệu để thưởng lãm và nghiên cứu.
Tấm bảng có nội dung ca tụng công hạnh của ngài Như Đông - Đắc Quang. Căn cứ theo Tập san Liễu Quán số 8 và bản chép tay Lịch đại Tổ sư Tổ đình Quốc Ân được phát hiện trong chuyến sưu khảo, chúng ta biết ít thông tin về Tổ Đắc Quang. Ngài sinh năm 1888, tịch ngày mùng 2 tháng Giêng năm 1947. Ngài làm Tăng cang chùa Thiên Mụ và trụ trì Quốc Ân sau khi pháp huynh Như Thông - Đắc Ân (1873-1935) viên tịch. Năm 1941 ngài mở đàn giới tại Tổ đình Quốc Ân, có ngài Trí Độ thọ tỳ kheo (cũng là đệ tử ngài), ngài Trí Tịnh thọ sa di, những vị sau này có ảnh hưởng lớn đến chấn hưng Phật giáo. Đệ tử ngài còn có: Hồng Cảnh-Viên Dung-Huyền Nghĩa trụ trì chùa Khánh Vân, Hồng Nam-Hương Mãn-Huyền Không trụ trì chùa Quốc Ân, Hồng Nhân-Phất Huệ-Huyền Vân (chùa Thiền Lâm).
TVHQ
Nguyên tác chữ Hán:
悲夫!佛法
淹淬息波
龍象跡晦
蛇虬居多
宗風久替
叢林棲鴉
荆棘塞道(衜)
無人擔荷
天童末葉
重遇作家
漕溪洗鉢
東林掛裟
靈根慧業
清浄無瘕
僧中木鐸
泥裡蓮花
際此鬥争
弱法強魔
願將摩尼
普利塵沙。
此奉:國恩嗣祖充天姥僧綱夲師法座
佛曆二千五百二二年,冬至日
法嗣玄號並弟子等和南
Phiên âm:
Bi phù! Phật pháp
Yêm thoái tức ba
Long tượng tích hối
Xà cầu cư đa
Tông phong cửu thế
Tùng lâm thê nha
Kinh cức tắc đạo
Vô nhân đảm hà
Thiên Đồng mạt diệp
Trùng ngộ tác gia
Tào Khê tẩy bát
Đông Lâm quải sa
Linh căn tuệ nghiệp
Thanh tịnh vô hà
Tăng trung mộc đạc
Nê lý liên hoa
Tế thử đấu tranh
Nhược pháp cường ma
Nguyện tương Ma-ni
Phổ lợi trần sa
Thử phụng: Quốc Ân tự tổ, sung Thiên Mụ tăng cang, bổn sư pháp toà.
Phật lịch nhị thiên ngũ bách nhị niên, Đông chí nhật
Pháp tự Huyền Hiệu tịnh đệ tử đẳng hòa nam
Dịch nghĩa:
Thương thay Phật pháp
Sóng lặng chìm sa (1)
Long tượng vắng bóng (2)
Rắn rết đầy nhà. (3)
Tông phong suy hoại
Quạ đậu Thiền gia (4)
Gai góc ngăn lối (5)
Chẳng người chống đà. (6)
Đời cuối Thiên Đồng (7)
Gặp lại chung nhà
Tào Khê rửa bát (8)
Đông Lâm treo y. (9)
Linh căn tuệ nghiệp
Thanh tịnh không tà
Mộc đạc (10) Tăng chúng
Bùn sen nở hoa.
Gặp buổi tranh đấu
Pháp yếu ma đa
Nguyện đem ngọc báu (11)
Lợi khắp trần sa.
Kính dâng lên pháp tòa bổn sư vị Tổ nối pháp chùa Quốc Ân, giữ chức Tăng cang chùa Thiên Mụ.
Ngày Đông chí, Phật lịch năm 2502.
Pháp tự (nối pháp) Huyền Hiệu cùng các đệ tử kính cẩn đảnh lễ.
*** chú thích:
(1) sóng lặng chìm sa: Sóng pháp bị dập tắt, lặng xuống, chỉ Phật pháp suy vi, không còn hưng thịnh.
(2) Long tượng vắng bóng: dấu chân rồng voi mờ đi, ngầm ý nói việc các bậc đại đức cao tăng thời nay đã hiếm thấy, ẩn mất.
(3) Rắn rết đầy nhà: Rắn và rồng không sừng tượng trưng kẻ tà vạy, thấp kém. Ngụ ý người tà kiến, giả danh tu hành thì ngày càng tràn lan.
(4) Quạ đậu thiền gia: Chốn tùng lâm nay đã dần tàn lụi hoang phế, chỉ còn là nơi chim quạ neo đậu.
(5) Gai góc ngăn lối: đường tu hành bị chướng ngại, tà kiến che lấp.
(6) Chẳng người chống đà: Không ai gánh vác Phật pháp, thiếu người hộ trì, truyền thừa.
(7) Đời cuối Thiên Đồng: chỉ ngài Như Đông Đắc Quang
(8) Tào Khê tẩy bát: Chỉ việc tương thừa, phục hưng Thiền tông chân truyền.
(9) Đông Lâm treo y: Chùa Đông Lâm nơi tổ Huệ Viễn xây dựng đạo phong Tịnh độ.
(10) Mộc đạc: cái chuông, là pháp khí để thức tỉnh. Ý nói các vị tổ của Thiền - Tịnh là những bậc cao tăng, người cảnh tỉnh tăng đoàn, dẫn đạo.
(11) Nguyện đem ngọc báu: Ngọc báu Ma ni biểu trưng cho trí tuệ vô ngại, chân lý Phật pháp soi chiếu vào đời.
Dịch chú: Thích Hải Hạnh
Ảnh: Thư viện Huệ Quang












