VỀ BỘ KINH HOA NGHIÊM TẠI TỔ ĐÌNH THIỀN TÔN
A. KINH HOA NGHIÊM TẠI VIỆT NAM
Kinh Hoa Nghiêm tên đầy đủ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh, là bộ kinh có dung lượng đồ sộ với tư tưởng được cho là thâm viễn bậc nhất của Phật giáo Đại thừa. Có 3 truyền bản Hoa Nghiêm từ Hán tạng:
1. Lục thập Hoa Nghiêm (60 quyển): Dịch vào thời nhà Tấn (năm 418-420) bởi ngài Phật Đà Bạt Đà La (Buddhabhadra). Bản này gồm 34 phẩm.
2. Bát thập Hoa Nghiêm (80 quyển): Dịch vào thời nhà Đường (năm 695-699) bởi ngài Thật Xoa Nan Đà (Siksananda). Đây là bản dịch lưu hành phổ biến và hoàn chỉnh nhất, gồm 39 phẩm.
3. Tứ thập Hoa Nghiêm (40 quyển): Dịch vào thời nhà Đường (năm 795-798) bởi ngài Bát Nhã (Prajna). Bản này thực chất là nội dung trọn vẹn của Phẩm Nhập Pháp Giới.
Tinh thần Hoa Nghiêm không chỉ là cốt tủy của Hoa Nghiêm tông mà còn lan tỏa đến hầu như mọi tông phái của Phật giáo, đặc biệt là Thiền tông. Hoa Nghiêm Phạn bản cổ ra đời khoảng 500 năm sau Phật niết bàn, vẫn còn lưu giữ được một số phẩm. Bản Tây Tạng ra đời sau đó ít lâu và có nội dung, dung lượng tương đương với Bát thập Hoa Nghiêm bản Hán còn được lưu giữ đầy đủ.
Hoa Nghiêm được cho là du nhập vào đất Việt từ khá sớm, từ thời Bắc thuộc. Đến thời Lý – Trần thì tinh thần Hoa Nghiêm đã lan tỏa mạnh mẽ, được ghi nhận từ chính sử qua Đại Việt Sử Ký toàn thư đến các Thiền sử như Thiền uyển tập anh, Tuệ Trung ngữ lục, Tam Tổ thực lục. Có nhiều pháp hội tổ chức giảng kinh Hoa Nghiêm của chư tổ Trúc Lâm quy tụ hàng ngàn Phật tử tham dự. Tinh thần Hoa Nghiêm thâm nhập vào mọi ngỏ ngách tư tưởng từ trí thức tới bình dân. Vũ trụ quan Hoa Nghiêm được thể hiện trong kiến trúc chùa chiền.
Đến thời Lê, theo như kết quả sưu khảo của chúng tôi lâu nay, còn lưu giữ được nhiều bản kinh Hoa Nghiêm khắp Nam Bắc, từ kinh xếp tới phương sách, qua truyền bản Bát thập Hoa Nghiêm. Những năm 60 của thế kỷ trước có bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Trí Tịnh đến nay vẫn còn phổ biến. Gần đây có thêm bản dịch của Thượng toạ Thích Minh Định, cư sỹ Thiện Trí và nhiều bản dịch khác. Việc trì tụng, tu tập Hoa Nghiêm hiện nay cũng phổ biến bên cạnh các bộ kinh Di Đà, Vô Lượng Thọ và Pháp Hoa.
Kinh Hoa Nghiêm chữ Hán được khắc ván và lưu trữ tại Việt Nam qua số liệu thực chứng của Thư viện Huệ Quang:
Về phương sách, chúng ta hiện biết có 3 nơi khắc bản, đều thuộc loại Bát thập Hoa Nghiêm:
a. Bát thập Hoa Nghiêm, mộc bản Tổ đình Chúc Thánh (Quảng Nam) khắc năm Vĩnh Khánh thứ 4 (1732). Mộc bản hiện chỉ còn một ván tại Tổ đình Phước Lâm, Hội An. Sách giấy hiện còn tại chùa Bảo Sơn (Phú Yên) trọn bộ 16 tập-80 quyển; chùa Tường Vân (Huế) trọn bộ 16 tập-80 quyển. Hai bộ sách có một số dị biệt nhỏ do quá trình dập bản và tu bổ.
b. Bát thập Hoa Nghiêm, mộc bản Đại Giác thiền tự, Bắc Ninh, khắc năm Thiệu Trị thứ 2 (1742), do ngài An Thiền-Phúc Điền tổ chức thực hiện. Mộc bản không còn. Sách hiện còn tại Tổ đình Quốc Ân (Huế) gồm 16 tập-80 quyển.
c. Bát thập Hoa Nghiêm mộc bản chùa Bồ Đề, Hà Nội, khắc bản năm Thành Thái thứ 4, Nhâm Thìn (1892). Ván còn. Sách gồm 16 tập-80 quyển, còn ở nhiều chùa từ Bắc vào Nam.
Về kinh xếp có 1 bản khắc, thuộc truyền bản Bát thập Hoa Nghiêm, ván khắc hoàn thành vào niên hiệu Cảnh Hưng thứ 18, Đinh Sửu (1757). Do các chùa ở Đàng Trong từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên quyên góp khắc bản trong những năm Cảnh Hưng 14-18. Mộc bản không còn. Sách hiện còn 2 bộ lưu tại Tổ đình Báo Quốc (Huế), gồm 80 tập 80 quyển. Mỗi tập một quyển, 5 tập để vào một hộp gỗ. Trọn bộ nằm trong 16 hộp gỗ. Bộ có bìa bọc gấm, ruột giấy dó tốt nằm trong hộp gỗ sơn son hoa văn thếp bạc phủ hoàng kim, một bộ bình dân nằm trong loại hộp gỗ khác. Cả hai bộ sách đều còn hoàn hảo.
Một bộ hiện tồn tại chùa Bảo Sơn (Phú Yên). Bộ sách được rập/viết bằng giấy xuyến, đóng thành 40 tập, mỗi tập 2 quyển. Trong bộ sách, có một số quyển là bản chép tay xưa thay thế những bản in không còn. Bộ sách giấy này còn có một quyển đóng riêng gọi là "Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Bảo Sám".
Ngoài ra, còn một số bộ Hoa Nghiêm không được khắc ván tại Việt Nam, nhưng được trân tàng và có sức ảnh hưởng lớn đối với việc học Phật tại Việt Nam, khi nó được làm tài liệu tu học và giảng dạy của chư tổ tại các ngôi Tổ đình, Phật học đường xưa.
a. Bản Hoa Nghiêm thuộc Gia Hưng tạng lưu tại Tổ đình Thập Tháp (Bình Định). Theo thống kê của tập san Liễu Quán, số 8 (05/2016) gồm 10 tập, 50 quyển, thuộc loại phương sách (không biết thuộc truyền bản Hoa Nghiêm nào?).
b. Bản Hoa Nghiêm thuộc mộc bản chùa Hải Tràng, Trung Quốc khắc in năm Kỷ Sửu, thời Càn Long (1769). Sách hiện lưu tại Tổ đình Thiền Tôn (Huế), thuộc loại phương sách.
Một số bản Hoa Nghiêm chép tay của chư Tổ còn ở một số cổ tự, cũng cho thấy sự thâm nhập của Hoa Nghiêm trong chốn thiền môn. (Dĩ nhiên, có thể còn một số bộ Hoa Nghiêm khác mà chúng tôi chưa được tiếp xúc).
B. BỘ KINH HOA NGHIÊM QUÝ TẠI TỔ ĐÌNH THIỀN TÔN
Bộ kinh Hoa Nghiêm hiện được trân tàng tại Tổ đình Thiền Tôn thuộc truyền bản Bát thập Hoa Nghiêm do chùa Hải Tràng khắc ván vào thời Càn Long, năm 1769. Nếu sách được dập vào thời điểm đó thì đến nay được 257 năm. Không biết sách đã di chuyển vào Trung Việt bằng cách nào và khi nào? Việc tìm hiểu dòng chảy kinh điển từ chùa Hải Tràng vào Đàng Trong giai đoạn này có thể làm sáng tỏ một số vấn đề (mà ở đây chưa đủ tư liệu và kiến văn để giải quyết vấn đề).
Toàn bộ bộ Bát thập Hoa Nghiêm được đóng thành 48 tập, còn đủ 80 quyển. Có tập 1 quyển, có tập 2 quyển. Khổ sách 19x28cm; khuông in 22.5x33cm (có xê dịch). Mỗi trang 2 mặt, mỗi mặt 10 dòng, mỗi dòng 20 chữ. Giữa trang giấy hai mặt gấp lại được thêm vào giữa một tờ giấy lót mỏng từ xưa, loại giấy xuyến vàng, hơi nhám (nhiều khả năng tổ Tâm Tĩnh(1) thêm vào để phụng điểm mực son cho khỏi ảnh hưởng tờ sau?). Bìa được khâu trên giấy vàng có hoa văn lá xanh. Sau bìa là tờ giấy vàng nghệ có chấm tiêu, tới tờ giấy xuyến mỏng màu trắng, giấy hơi bở. Phần nội dung được dập bản trên loại giấy xuyến tốt, đến nay vẫn còn nguyên vẹn.
Từ bộ kinh quý này, tổ Tâm Tĩnh đã cú đậu (mà Ngài gọi là phụng điểm) toàn bộ bộ kinh mà trước đó vốn không có một dấu câu nào (Hán văn xưa đều thế), đồng thời sáng tác 9 bài thi kệ chữ Hán ở cuối một số phẩm, bộc lộ những thâm cảm, sở đắc của ngài khi đọc/cú đậu kinh Hoa Nghiêm, đã làm cho bộ kinh quý càng thêm quý. Những thi kệ còn giúp soi sáng tư tưởng của một bậc tổ sư đã làm rạng rỡ Tông phái Liễu Quán - Tây Thiên. Việc nghiên cứu những cú đậu cần đi sâu hơn để thấy được sự hiểu biết của tiền nhân chúng ta với bộ kinh này, vì cú đậu là một bước quan trọng trong việc chuyển ngữ. Có thể nói tổ Tâm Tĩnh đã “vô tình” chuẩn bị bước đầu cho việc dịch kinh Hoa Nghiêm, dù có thể Ngài không có ý dịch sang Việt ngữ. Tiếc là những thế hệ dịch kinh Hoa Nghiêm sang Việt ngữ của chúng ta chưa có đủ nhân duyên để tham khảo bản cú đậu này. Những cú đậu của ngài Tâm Tĩnh rất đáng để tham chiếu, vì Ngài là bậc cao tăng ở vào giai đoạn gạch nối giữa Hán ngữ và Việt ngữ hiện đại.
* Vị trí, phiên âm, dịch nghĩa 10 thi kệ (9 của ngài Tâm Tĩnh, 1 của ngài Giác Nhiên):
Chúng tôi xin được sử dụng bản phiên âm, dịch thơ của Thượng tọa Thích Nguyên Minh (Tổ đình Tây Thiên) trong bài "Tổ sư Tâm Tĩnh và những bài thơ cảm tác trong khi phụng điểm kinh Hoa Nghiêm" đăng trong kỷ yếu Hội thảo khoa học Thiền phái Liễu Quán - Lịch sử hình thành và phát triển, xuất bản năm 2023, gồm 7 bài của ngài Tâm Tĩnh và 1 bài của ngài Giác Nhiên. Chúng tôi đính chính lại một số vị trí xuất hiện thi kệ do bài viết nhầm giữa số phẩm và số quyển.
1. Thi đề cuối quyển 4, phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm:
Thần công như thị vô biên lượng
Phổ hộ thập phương diệu lực trì
Thừa Phật uy thần năng hoá thử
Giác ngộ quần sanh vũ cập thì.
Tạm dịch:
Công năng Phật pháp thật vô biên
Thần lực hộ trì khắp mười phương
Nhờ Phật uy thần mong hoá độ
Mưa hoa giác ngộ cõi trần gian.
2. Thi đề cuối quyển 8, phẩm Hoa Tạng thế giới:
Như thị vô biên thế giới đa
Trùng trùng bố thiết thượng liên hoa
Thái hư bao nạp nan tư cảnh
Tỳ-lô như hứa độ như hà.
Tạm dịch:
Thì ra thế giới thật vô biên
Chập chùng trọn đủ trong đoá sen
Bầu không rộng chứa bao nhiêu cảnh
Tỳ-lô Hoa tạng đẹp vô ngần.
3. Thi đề cuối quyển 18, phẩm Minh Pháp:
Pháp Huệ ân cần thuyết pháp âm
Pháp âm diễn xướng ứng quần tâm
Quần tâm dĩ ngộ chân như pháp
Chân như pháp ấn khứ lai câm (kim).
Tạm dịch:
Pháp Huệ ân cần nói pháp âm
Pháp âm vang động chạm vào tâm
Tâm người đã ngộ Chân như pháp
Chân như pháp ấy xưa nay đồng.
4. Thi đề cuối quyển 21, phẩm Thập Vô Tận Tạng:
Phật lực quang đằng chúc đại thiên
Pháp âm chấn hưởng bố Kỳ viên
Năng linh Bồ tát sanh hoan hỷ
Phổ sử nhân thiên chứng hiện tiền.
Tạm dịch:
Hào quang Phật toả sáng ba ngàn
Lời Ngài vang động khắp Kỳ viên
Khiến cho bồ tát sinh hoan hỷ
Trời người cũng chứng được hiện tiền.
5. Thi đề cuối quyển 31, phẩm Thập Hồi Hướng:
Vô trước vô phược giải thoát tâm
Phổ Hiền trí hạnh cực thâm thâm
Pháp tướng chân như giai hồi hướng
Thập phương pháp giới nguyện như câm (kim).
Tạm dịch:
Sạch làu trói buộc tâm thênh thang
Phổ Hiền trí hạnh thật mênh mang
Pháp tướng chân như đều hồi hướng
Mười phương thế giới nguyện an nhiên.
6. Thi đề cuối quyển Hoa Nghiêm Kinh Luận Quán, sau quyển 80:
Quả nhiên như thị thậm kỳ tai
Chư Phật chúng sanh toạ bửu đài
Thượng khiếm Thiếu Lâm tăng nhất sổ
Bất tri hà nhật kiến Như Lai.
Tạm dịch:
Thì ra pháp Phật diệu kỳ thay
Chư Phật, chúng sanh ngồi một đài
Chỉ thiếu lão tăng am Thiếu Thất
Chẳng biết ngày nào gặp Như Lai.
7. Thi đề cuối phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện (cũng là cuối bộ sách), sau quyển 80 và quyển Hoa Nghiêm Kinh Luận Quán:
Thập phương sát hải nhất vi trần
Toàn tại đương nhân cá tối thân
Nhất bộ đại kinh minh thử ý
Nguyện giai tự tín bổn lai nhân.
Tạm dịch:
Thế giới mười phương một mảy trần
Cùng người đang là thật thiết thân
Một bộ kinh đây thông nghĩa ấy
Nguyện mong tin tưởng “chủ nhân ông”.
Cuối bài thơ này còn có câu phụ đề: “Thiếu Lâm Tâm Tĩnh nguyện khẩn - 少 林 心 靜 願 墾” (Tâm Tĩnh chùa Thiếu Lâm nguyện khai vỡ nghĩa lý).
[Một điều đặc biệt, là ngay sau bài thơ số 1 này của tổ Tâm Tĩnh được viết bằng mực son, có một bài thơ của Đại lão Hoà thượng Chí Thâm Giác Nhiên được viết bằng mực xạ với phụ đề: “Tiền tứ cú thị bổn sư, hậu tứ cú thừa bổn sư nhi đề - 前 四 句 是 本 師 後 四 句 承 本 師 而 題” (Bốn câu thơ trên là của bổn sư (tổ Tâm Tĩnh), bốn câu dưới nương theo ý bổn sư mà phụng đề). Nguyên văn bài thơ của Đại lão Hoà thượng Chí Thâm Giác Nhiên như sau:
Thần công pháp giới tất chu biến
Nhất thiết chúng sanh hàm ngưỡng lại
Uy linh hiển hách thậm kỳ tai
Long Vương hoá vũ nhất thần (thời) khai.
Tạm dịch:
Uy thần rãi khắp cả thế gian
Hết thảy chúng sanh phước vô vàn
Oai linh hiển hách thật kỳ diệu
Long vương mưa xuống thế gian này.
Với lời phụ đề “Tiền tứ cú thị bổn sư, hậu tứ cú thừa bổn sư nhi đề” gợi ý, sau khi đã phụng điểm xong bản kinh Hoa Nghiêm, chắc hẳn là để giảng dạy, Tổ sư Tâm Tĩnh đã trao bản kinh này cho đệ tử của mình là Ngài Chí Thâm, sau đó khi vào tiếp quản và làm trú trì chốn Tổ Thuyền Tôn thì Ngài đã mang theo bản kinh Hoa Nghiêm này ]
* Phát hiện thêm hai thi kệ:
Trong quá trình Thư viện Huệ Quang và Trung tâm Liễu Quán số hoá tư liệu tại Tổ đình Thiền Tôn, chúng tôi phát hiện thêm 2 thi kệ. Nhân Thượng toạ Thích Nguyên Hiền(2) ghé thăm đoàn làm việc, đã phiên âm, dịch nghĩa, chúng tôi cũng xin cống hiến học giới cho trọn vẹn.
Thi đề cuối phẩm Thập Hạnh, sau quyển 20:
Thập hạnh nhân hoa tối thắng duyên
Nhất thừa đạo quả bố nhân thiên
Hằng sa vô lượng chư tam muội
Như thị Đức Lâm tự thử truyền.
Tạm dịch:
Mười hạnh hoa khai quá diệu huyền
Nhất thừa quả chứng khắp nhân thiên
Từ đó vô biên môn diệu định
Công Đức Lâm bồ tát diễn truyền.
Thi đề cuối phẩm Thập Hồi Hướng, sau quyển 32:
Bồ đề bất động toà
Pháp hoá bố chư thiên
Quang trung vô lượng sự
Thanh tịnh diệu trang nghiêm
Năng linh Bồ tát giả
Đàn chỉ dõng kỳ tiền
Tuệ nhật không trung hiện
Tịnh thuỷ tức như nhiên.
Thích Tâm Tĩnh ngưỡng tán
Tạm dịch:
Chẳng cần lìa khỏi toà
Giáo hoá khắp gần xa
Thi tác muôn Phật sự
Nghiêm tịnh cõi ta bà.
Giúp chư vị Bồ tát
Dõng xuất trong sát na
Tuệ nhật tầng không chiếu
Nước tâm khắc sáng loà.
Bộ kinh Hoa Nghiêm lưu tại Tổ đình Thiền Tôn có nhiều ý nghĩa to lớn trên phương diện nghiên cứu điển tịch Phật giáo, lịch sử chư tổ, tư tưởng dịch thuật, trứ tác, đạo tình thầy trò, tinh thần tu học kinh điển của tiền nhân. Bộ kinh ấy xứng đáng là một pháp bảo của Phật giáo Việt Nam. Đối với Tổ đình Thiền Tôn và môn phái Liễu Quán - Tây Thiên, bộ kinh là một "trấn sơn chi bảo". Bộ kinh vừa quý báu vừa thiêng liêng khi các bậc cao tăng tiền bối khả kính đã đọc qua, lật qua, cú đậu từng dòng từng chữ trên từng trang kinh, qua nhiều thế hệ, và vẫn được tu bổ giữ gìn hầu như nguyên vẹn đến nay.
Lần này chúng tôi số hoá toàn bộ bộ kinh để có thể lưu giữ được tất cả những nội dung và dấu tích thời gian của nó. Chúng tôi cũng tu bổ lại bộ kinh theo tinh thần giữ lại tất cả những giá trị cũ, từ tờ lót giữa trang, đến bìa và các tờ lót giữa bìa và nội dung. Chúng tôi chỉ thêm vào mỗi đầu và cuối 2 tờ lót bằng giấy dó, nằm phía sau tờ giấy lót mỏng cũ; thêm vào bìa sắc phong bên ngoài và khâu lại trên lỗ khâu cũ, theo cách cũ. Chỉ thay đổi một chi tiết, chỉ xưa (nhiều khả năng được tu bổ vào thời ngài Tâm Tĩnh) được thay bằng chỉ tơ tằm. Tất cả đều là nguyên vật liệu tự nhiên, thủ công, không làm tổn thương đến bộ kinh cổ, với hy vọng bộ kinh được thuận tiện trân tàng và nhờ đó được bền lâu hơn.
-----------
Tổ đình Thiền Tôn, quý xuân, Bính Ngọ, 2026
Thích Không Hạnh (sơ khảo)
Ảnh: Thư viện Huệ Quang
Chú thích:
(1) Tổ Thanh Ninh-Tâm Tĩnh (1868-1928), thế hệ thứ 7 thiền phái Liễu Quán, khai sơn Tổ đình Tây Thiên, thầy của Đức đệ nhị tăng thống Trừng Thuỷ - Giác Nhiên (1878-1979), trụ trì đời thứ 10 Tổ đình Thiền Tôn.
(2) Thượng toạ Thích Nguyên Hiền là học tăng khoá đầu của Lớp phiên dịch Hán Nôm Huệ Quang, hiện là giáo thọ của Trung tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang, trụ trì Vĩnh Minh tự viện (Lâm Đồng).

Hoà thượng Trụ trì Tổ đình Thiền Tôn - Thích Thanh Đàm đang xem bộ kinh Hoa Nghiêm trân tàng tại Tổ đình.

Một trang sách có thi kệ do Tổ Tâm Tĩnh cảm tác.

Thầy Tri sự Thích Đạo Châu đang hầu Hoà thượng Thích Quang Nhuận xem bộ kinh Hoa Nghiêm của Tổ.

Bộ kinh Hoa Nghiêm do Tổ Thanh Ninh - Tâm Tĩnh phụng điểm

"Thiếu Lâm am, Tâm Tĩnh phụng điểm"

Bộ kinh Hoa Nghiêm của Tổ Tâm Tĩnh sau tu bổ, thêm vào mỗi đầu và cuối 2 tờ lót bằng giấy dó, nằm phía sau tờ giấy lót mỏng cũ; thêm vào bìa sắc phong bên ngoài và khâu lại trên lỗ khâu cũ, theo cách cũ.
Nhiều thi kệ được Tổ Tâm Tĩnh cảm tác và viết vào bộ kinh Hoa Nghiêm bằng mực son.
Dấu tích do Tổ Tâm Tĩnh cú đậu vào bộ kinh Hoa Nghiêm

Trang cho biết thông tin niên đại khắc ván và nơi tàng bản của bộ kinh Hoa Nghiêm

Bài thi kệ được Tổ Tâm Tĩnh cảm tác và viết vào bộ kinh Hoa Nghiêm bằng mực son.

Bộ kinh Hoa Nghiêm của Tổ Tâm Tĩnh sau tu bổ lại bộ kinh theo tinh thần giữ lại tất cả những giá trị cũ, từ tờ lót giữa trang, đến bìa và các tờ lót giữa bìa và nội dung.

Bộ kinh Hoa Nghiêm của Tổ Tâm Tĩnh sau tu bổ, khâu lại bằng chỉ tơ tằm trên lỗ khâu cũ.







