壽 Thọ
Chữ Thọ 壽 là một chữ thuộc nhóm chữ Hình thanh, được ghi nhận xuất hiện sớm nhất vào thời Kim văn. Chữ Thọ mang một số nghĩa như sau: Lâu dài, sống lâu, như: phúc thọ song toàn 福壽雙全 (hạnh phúc và sống lâu trọn vẹn cả hai); Tuổi, niên kỉ, như: trung thọ 中壽 (số tuổi bậc trung); Ngày sinh nhật, như: chúc thọ 祝壽 (chúc mừng tuổi mới/sống lâu); Chuẩn bị để dùng khi chết, như: thọ y 壽衣 (quần áo để mặc khi chết); Đời xưa đem vàng lụa tặng cho người tôn kính hay lấy rượu mà chuốc cũng gọi là thọ, như: Nghiêm Trọng Tử phụng hoàng kim bách dật, tiền vi Nhiếp Chánh mẫu thọ 嚴仲子奉黃金百溢,前為聶政母壽 (Nghiêm Trọng Tử dâng một trăm dật vàng cho mẹ Nhiếp Chánh làm lễ mừng).
Trong Kim văn, chữ 壽 được tạo thành bằng cách lược viết của bộ lão 老và lấy chữ 𠃬 làm phần biểu âm. Nghĩa gốc của chữ này là tuổi già, sống lâu. Chữ 壽 được dùng để chỉ tuổi thọ, sống lâu như trên Tụng đỉnh 頌鼎chép: “萬年沬(彌)壽” nghĩa là: “mong được hưởng tuổi thọ tròn đầy như vạn năm”; Chữ 壽 được dùng để chỉ niên lão, trường thọ, trên Vũ đỉnh 禹鼎 chép: “勿遺壽幼” nghĩa là: “đừng bỏ sót người già và trẻ nhỏ.” [1]
Sách Thuyết văn giải tự của Hứa Thận giải thích nghĩa chữ 壽 như sau: “久也。从老省,[ ] 聲。” Nghĩa là: (Thọ) là lâu dài. Chữ này được cấu tạo từ phần lược của bộ 老 biểu ý và phần chữ 𠷎 (thọ) biểu âm. [2] Đoàn Ngọc Tài có chú giải thêm như sau: “Lâu là sự kéo dài trong thời gian, ý chỉ việc tiếp tục sưởi ấm ở phía sau (ẩn dụ cho sự kéo dài sinh mệnh như được sưởi mãi không tắt). Từ ý nghĩa gốc đó, được sử dụng thành nghĩa trường tồn, lâu dài và được dùng theo nghĩa đó. (Cổ văn) chữ 壽 viết bộ khẩu 口 phần ở giữa, nhưng cách viết theo Triện thư lúc bây giờ đã có sự sai lệch so với bản cổ.” [3]
Lại bàn thêm, trong sách Chính tự thông 《正字通》 từ 受 và 授 đều có hai thanh điệu là thưởng thanh và khứ thanh. Các sách về vận luật như Vận thư 《韻書》 đều chia và ghi nhận hai loại vần hựu 宥, là một vần dùng cho cả thưởng thanh và khứ thanh. Chữ 壽 cũng giống như vậy. Không phải chữ 壽 chỉ đọc như chữ 受 (thưởng thanh), cũng không phải chỉ đọc như chữ 授 (khứ thanh), mà cả hai cách đọc đều tồn tại, tùy theo ngữ cảnh, ngữ điệu và cách dùng trong văn cổ. [3]
Bàn về chữ 壽, sách Luận ngữ 論語 có chép như sau: “子曰:知者樂水,仁者樂山;知者動,仁者靜;知者樂,仁者壽。” Nghĩa là: “Khổng Tử nói: Người trí thì thích nước, người nhân thì thích núi; Người trí thì năng động, người nhân thì an tĩnh; Người trí thì vui thích, người nhân thì sống lâu.” [4]
Trong bài Dần hạ Hoàng Mai Đỗ gia song thọ 《寅賀黃梅杜家雙壽》 của tác giả Doãn Uẩn 尹蘊 có 4 câu cuối như sau: [5]
天榮喬木非無意,
人羨高門定有興。
書好夙因聯美蔭,
永培壽醑祝昇恆。
Phiên âm:
Thiên vinh kiều mộc phi vô ý,
Nhân tiện cao môn định hữu hưng.
Thư hảo túc nhân liên mỹ ấm,
Vĩnh bồi thọ tử chúc thăng hằng.
Dịch thơ:
Kiều mộc trời cho đều có ý,
Cao môn người định được tôn sùng.
Sách ghi phúc ấm nhiều thêm đẹp,
Vui chúc ông bà song thọ cùng.
(Trần Bá Chí dịch)
Thư viện Huệ Quang – Đoàn Thanh Ngân
Tài liệu tham khảo
[1] 漢語多功能字庫, 壽, Truy xuất từ: https: https://humanum.arts.cuhk.edu.hk/Lexis/lexi-mf/search.php...
[2] Hứa Thận, Thuyết văn giải tự chân bản, “Quyển 8”, Bản scan từ bản của Đại học Waseda lưu giữ.
[3] 汉典, 壽, Truy xuất từ: https://www.zdic.net/hans/%E5%A3%BD
[4] 中國哲學書電子化計劃, 論語 – 雍也, Truy xuất từ: https://ctext.org/pre-qin-and-han/zh?searchu=%E5%A3%BD
[5] Thi viện, Dần hạ Hoàng Mai Đỗ gia song thọ 寅賀黃梅杜家雙壽, Truy xuất từ: https://www.thivien.net/.../poem-rDgNxmKYTWV9WcZ-PgorlA







